Hiển thị các bài đăng có nhãn thị trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thị trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 22 tháng 10, 2019

[Sách hay] Những đỉnh cao chỉ huy – Cuộc chiến vì nền kinh tế thế giới của Daniel Yergin, Joshep Stanislaw, người dịch Phạm Quang Diệu


Những Đỉnh Cao Chỉ Huy thể hiện một cách thuyết phục và đầy ấn tượng về những thách thức chủ yếu của thời đại ngày nay và tương lai đối với các chính sách của chính phủ và hoạt động của các công ty.

Thực ra, câu chuyện thất bại nhà nước và thất bại thị trường hay mối quan hệ nhà nước - thị trường không phải chủ đề nghiên cứu mới hay của riêng công trình do UNDP thực hiện. Nó chỉ góp thêm một tiếng nói, rất thiết thực và bổ ích, trực tiếp cho người Việt Nam lúc đó mới chập chững bước vào kinh tế thị trường - một thị ttrường mới mở cửa ( mới được mươi năm kể từ khi đổi mới), nhằm làm sáng tỏ thêm một vấn đề có thể coi là xưa cũ, một vấn đề đã từng đeo đẳng, giày vò loài người nhiều thế kỷ mãi cho tới tận ngày hôm nay.

Những Đỉnh Cao Chỉ Huy cũng là một công trình được viết trong nỗi ám ảnh của sự giày vò đó. Nó cũng bàn về vấn đề nhà nước - thị trường. Như hàng ngàn cuốn sách khác, nó bàn về một trong những vấn đề lớn nhất, phức tạp nhất, gây nhiều phiền hà nhất, do đó, cũng là thú vị nhất của lịch sử phát triển nhân loại.

Cuốn sách có nhiệm vụ trả lời những câu hỏi lớn của lịch sử hiện đại: Tại sao phải chuyển sang cơ chế thị trường ? Tại sao và như thế nào mà sự chuyển đổi từ kỷ nguyên, trong đó, chính phủ các quốc gia luôn tìm cách nắm giữ và kiểm soát nền kinh tế nhà nước sang kỷ nguyên với những ý tưởng về cạnh tranh, mở cửa, tư nhân hoá và bãi bỏ các phép tắc đã và đang thống trị tư tưởng kinh tế thế giới? Liệu những thay đổi này có phải là không thể đảo ngược? Chúng có phải là một phần của quá trình phát triển và tiến hoá liên tục? Hơn thế nữa kết quả và viễn cảnh chính trị, xã hội, kinh tế của sự thay đổi căn bản này trong mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường là gì?

Đối diện với loài người là một thế giới ngày càng toàn cầu hoá. Trong thế giới đó, không gian thu hẹp lại, thời gian được rút ngắn lại, các rào biên giới hạ thấp, và thế giới trở thành một ngôi làng. Khi đó, nền kinh tế thị trường vận hành với nhiều quy tắc mới. Toàn cầu hoá, như các tác giả viết, là một thách thức đối với nhà nước. Vì vậy mà vai trò và chức năng của nhà nước chắc chắn cũng sẽ có những thay đổi mạnh mẽ. Quyền lực nhà nước bị giới hạn trong phạm vi quốc gia có thể sẽ xung đột với quá trình toàn cầu hoá các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Khi đó, câu hỏi đặt ra sẽ là những đỉnh cao chỉ huy mà các nhà nước - quốc gia luôn muốn chiếm lấy để khống chế nền kinh tế thị trường liệu có những giá trị nào? Nhà nước sẽ tham gia vào quá trình phát triển mang tính toàn cầu với những công cụ và phương cách nào?

Những khó khăn mà chúng ta đang gặp phải trong quá trình cải cách hành chính, hay rộng hơn, cải cách nhà nước và hệ thống chính trị, cho thấy rõ mức độ phức tạp của việc trả lời các câu hỏi mà đất nước đang bắt buộc phải trả lời đó.Trong lộ trình đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi đó, có thể tin rằng cuốn sách này là một người bạn tốt.

Theo goodreads

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2018

Cách tính PEG (Price-Earnings Ratio)


Cách tích PEG như sau.

Các ví dụ tính toán PEG Ratio Để tính tỷ lệ PEG, và nhà đầu tư hoặc nhà phân tích cần phải tính tỷ lệ P / E đầu tiên của công ty được đề cập. Tỷ lệ P / E được tính bằng giá mỗi cổ phần của công ty chia cho thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS):

P/E ratio = Price per share / EPS

Một khi P / E được tính toán, công thức của PEG chỉ đơn giản là:

PEG ratio = P/E ratio / earnings growth rate

Giả sử các dữ liệu sau cho hai công ty, Công ty A và Công ty B:

Company A price per share = $46

Company A EPS this year = $2.09

Company A EPS last year = $1.74



Company B price per share = $80

Company B EPS this year = $2.67

Company B EPS last year = $1.78



Với thông tin này, các dữ liệu sau có thể được tính cho mỗi công ty:

Company A P/E ratio = $46 / $2.09 = 22

Company A earnings growth rate = ($2.09 / $1.74) - 1 = 20%

Company A PEG ratio = 22 / 20 = 1.1



Company B P/E ratio = $80 / $2.67 = 30

Company B earnings growth rate = ($2.67 / $1.78) - 1 = 50%

Company B PEG ratio = 30 / 50 = 0.6

Nhiều nhà đầu tư có thể nhìn vào Công ty A và thấy nó hấp dẫn hơn vì nó có mức P / E thấp hơn giữa hai công ty. Nhưng so với công ty B, nó không có tốc độ tăng trưởng đủ cao để biện minh cho chỉ số P / E. Công ty B đang giao dịch ở mức chiết khấu với tốc độ tăng trưởng của nó và các nhà đầu tư mua nó đang trả ít hơn cho mỗi đơn vị tăng trưởng lợi nhuận.

Tóm lại các cổ phiếu có PEG nhỏ hơn 1 là cổ phiếu tăng trưởng tốt và nên mua.

Nguồn: https://www.investopedia.com/terms/p/price-earningsratio.asp 

Thứ Ba, 13 tháng 2, 2018

Peter Lynch tìm cổ phiếu bị định giá thấp như thế nào?

Peter Lynch đã trở thành một nhà đầu tư tăng trưởng hơn là một nhà đầu tư giá trị. Nguyên tắc đầu tư của ông là tìm kiếm các công ty lớn khi chúng tương đối nhỏ nhưng có tiềm năng trở nên lớn trong tương lai. Bạn nên đọc cuốn sách của mình để hiểu triết lý đầu tư của mình Mua Một Trên Phố Wall: Cách Sử dụng Những gì Bạn Đã Biết để Kiếm tiền Trong Sách Thị trường Online ở mức giá thấp ở Ấn Độ. Từ bài báo Chọn cổ phiếu Giống như Peter Lynch bạn có thể nhận được một số hiểu biết về Peter Lynch phương pháp chọn cổ phiếu tốt.

1. Chỉ mua những gì bạn hiểu 

Theo Lynch, công cụ nghiên cứu cổ phiếu lớn nhất của chúng tôi là mắt, tai và ý nghĩa thông thường của chúng tôi. Lynch tự hào vì thực tế rằng nhiều ý tưởng cổ phiếu tuyệt vời của ông đã được phát hiện trong khi đi bộ qua cửa hàng tạp hoá hoặc trò chuyện tình cờ với bạn bè và gia đình. Tất cả chúng ta đều có khả năng phân tích trực tiếp khi chúng ta đang xem TV, đọc báo, hoặc nghe radio. Khi chúng tôi lái xe trên đường phố hoặc đi nghỉ mát, chúng tôi cũng có thể tìm ra các ý tưởng đầu tư mới. Xét cho cùng, người tiêu dùng chiếm 2/3 tổng sản phẩm quốc nội của Hoa Kỳ. Nói cách khác, hầu hết thị trường chứng khoán là trong kinh doanh phục vụ bạn, người tiêu dùng cá nhân - nếu điều gì đó thu hút bạn như một người tiêu dùng, nó cũng sẽ gợi cảm xúc của bạn như là một sự đầu tư.

2. Luôn luôn làm bài tự nghiên cứu của bạn

Quan sát đầu tiên và bằng chứng giai thoại là một khởi đầu tuyệt vời, nhưng tất cả những ý tưởng tuyệt vời cần được theo đuổi với nghiên cứu thông minh. Đừng nhầm lẫn bởi tính đơn giản của Peter Lynch khi làm việc nghiên cứu siêng năng - nghiên cứu nghiêm ngặt là một nền tảng cho sự thành công của ông.

Khi theo đuổi ý tưởng sáng tạo ban đầu, Lynch nhấn mạnh một số giá trị cơ bản mà ông ta mong đợi sẽ được đáp ứng cho bất kỳ cổ phiếu nào đáng mua:

Phần trăm doanh số bán hàng: 

Nếu có một sản phẩm hoặc dịch vụ thu hút ban đầu bạn đến công ty, hãy đảm bảo rằng nó có tỷ lệ doanh thu cao đủ để có ý nghĩa; một sản phẩm tuyệt vời mà chỉ chiếm 5% doanh số bán hàng sẽ không có nhiều hơn một tác động biên của một công ty.

Tỷ lệ PEG:

Tỷ lệ này được định giá để tăng trưởng lợi nhuận nên được xem xét để xem có bao nhiêu kỳ vọng được xây dựng vào cổ phiếu. Bạn muốn tìm kiếm các công ty có tăng trưởng lợi nhuận và định giá hợp lý - một công ty mạnh với tỷ lệ PEG hai hoặc nhiều hơn đã tăng trưởng lợi nhuận đã được tích hợp vào giá cổ phiếu, để lại ít chỗ cho lỗi.

Cách tích PEG như sau.
Các ví dụ tính toán PEG Ratio Để tính tỷ lệ PEG, và nhà đầu tư hoặc nhà phân tích cần phải tính tỷ lệ P / E đầu tiên của công ty được đề cập. Tỷ lệ P / E được tính bằng giá mỗi cổ phần của công ty chia cho thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS): 
P/E ratio = Price per share / EPS 
Một khi P / E được tính toán, công thức của PEG chỉ đơn giản là: 
PEG ratio = P/E ratio / earnings growth rate 
Giả sử các dữ liệu sau cho hai công ty, Công ty A và Công ty B:
Company A price per share = $46
Company A EPS this year = $2.09
Company A EPS last year = $1.74

Company B price per share = $80
Company B EPS this year = $2.67
Company B EPS last year = $1.78

Với thông tin này, các dữ liệu sau có thể được tính cho mỗi công ty:
Company A P/E ratio = $46 / $2.09 = 22
Company A earnings growth rate = ($2.09 / $1.74) - 1 = 20%
Company A PEG ratio = 22 / 20 = 1.1

Company B P/E ratio = $80 / $2.67 = 30
Company B earnings growth rate = ($2.67 / $1.78) - 1 = 50%
Company B PEG ratio = 30 / 50 = 0.6 
Nhiều nhà đầu tư có thể nhìn vào Công ty A và thấy nó hấp dẫn hơn vì nó có mức P / E thấp hơn giữa hai công ty. Nhưng so với công ty B, nó không có tốc độ tăng trưởng đủ cao để biện minh cho chỉ số P / E. Công ty B đang giao dịch ở mức chiết khấu với tốc độ tăng trưởng của nó và các nhà đầu tư mua nó đang trả ít hơn cho mỗi đơn vị tăng trưởng lợi nhuận.

Ưu đãi các công ty có vị trí tiền mặt mạnh và tỷ lệ nợ / vốn chủ sở hữu dưới mức trung bình. 

Dòng tiền mặt mạnh mẽ và quản lý tài sản thận trọng cho phép công ty lựa chọn trong tất cả các loại môi trường thị trường. (Để biết thêm thông tin về vấn đề này, xem Các khái quát về dòng tiền, Tìm kiếm bò tiền mặt và đánh giá cấu trúc vốn của công ty.)

3. Đầu tư cho dài hạn 

Lynch đã nói rằng "vắng mặt rất nhiều bất ngờ, cổ phiếu có thể dự đoán tương đối trong vòng 10 đến 20 năm. Liệu họ có thể tăng hoặc giảm trong vòng hai hoặc ba năm, bạn cũng có thể lật một đồng xu để quyết định." Có thể có vẻ đáng ngạc nhiên khi nghe những lời như vậy từ một huyền thoại phố Wall, nhưng nó làm nổi bật như thế nào đầy đủ ông tin vào triết lý của mình. Ông đã giữ kiến ​​thức về các công ty mà ông sở hữu, và miễn là câu chuyện không thay đổi, ông đã không bán. Lynch đã không cố gắng để thị trường thời gian hoặc dự đoán hướng của nền kinh tế tổng thể.

Một công trình khác Công thức bí mật của Peter Lynch về Đánh giá sự tăng trưởng của cổ phiếu nhấn mạnh vào phương pháp định giá sử dụng tỷ lệ PEG. "Tỷ lệ p / e của bất kỳ công ty nào có giá tương đương sẽ bằng tốc độ tăng trưởng của nó ... Nếu p / e của Coca-Cola là 15, bạn có thể mong đợi công ty sẽ tăng trưởng khoảng 15 phần trăm một năm, vv Nhưng nếu tỷ lệ p / e thấp hơn tốc độ tăng trưởng, bạn có thể thấy mình là một món hời. Một công ty, với tốc độ tăng trưởng 12% / năm ... và tỷ lệ ap / e của 6 là rất hấp dẫn Mặt khác, một công ty có tốc độ tăng trưởng 6% / năm và tỷ lệ ap / e là 12 là một viễn cảnh không hấp dẫn và sẽ đi đến hồi kết. " Nhìn chung, tỷ lệ p / e là một nửa tốc độ tăng trưởng là rất tích cực, và một trong hai lần tăng trưởng là rất tiêu cực. " 

Theo quan điểm của Ấn Độ, các cổ phiếu có những phẩm chất mà Peter Lynch khuyến cáo và thời gian tốt nhất để chọn chúng là khi chúng không được biết đến. Đây là loại cổ phiếu mà các nhà đầu tư thông thường có thể nhận ra bằng cách chỉ là những khách hàng hài lòng.

Maruti Suzuki: Từ năm 2012, cổ phiếu đã trở thành túi 5 gang.

Eicher Motor: Người chế tạo xe máy Royal Enfield, là chiếc túi 10 gang nếu được mua vào năm 2012.

Symphony: Sản xuất máy điều hòa, đã trở thành chiếc túi 50 gang nếu mua vào năm 2010.

Page Industries: Chủ sở hữu của Jockey Brand ở Ấn Độ, có thể đã trở thành chiếc túi 10 gang nếu được mua vào năm 2011.

Tóm lại
Mặc dù có rủi ro khi đa dạng hóa quỹ của mình (ông đã sở hữu hàng ngàn cổ phiếu ở những thời điểm nhất định), nhưng khả năng thực hiện và khả năng chọn hàng của Peter Lynch đã trở thành hiện thực. Ông đã trở thành một bậc thầy về nghiên cứu môi trường của mình và hiểu thế giới như nó và nó có thể là gì trong tương lai. Bằng cách áp dụng bài học và quan sát của chính mình, chúng ta có thể tìm hiểu thêm về đầu tư trong khi tương tác với thế giới của chúng ta, làm cho quá trình đầu tư trở nên thú vị và có lợi nhuận hơn.

Nguồn

Chủ Nhật, 11 tháng 2, 2018

Học đầu tư kiểu Benjamin Graham



(Chân dung Benjamin Graham)

“Đi theo các triết lý của Graham tức là bạn sẽ có được các lợi ích từ sự điên rồ của thị trường hơn là việc bạn là một phần của sự điên rồ đó”.

Đầu tư giá trị là một tập hợp các nguyên tắc đầu tư được giới thiệu lần đầu tiên bởi Benjamin Grahamkhi ông biên soạn cuốn sách Phân tích chứng khoán (Security Analysis) vào năm 1934. Và người kế thừa thành công nhất những triết lý này không ai khác là Warren Buffett, nhà đầu tư vĩ đại, từng là người giàu nhất thế giới với khối tài sản hàng chục tỷ đô la.

Vậy cốt lõi triết lý đầu tư theo giá trị gồm những điều cơ bản gì? Theo Graham, việc đầu tư theo giá trị là các hoạt động đầu tư dài hạn vào các cổ phiếu ít được chú ý trên thị trường do không hấp dẫn các nhà đầu tư và có giá cả thị trường thấp hơn giá trị thật của cổ phiếu nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ cổ tức do doanh nghiệp mang lại.

Về mặt hình thức, các cổ phiếu dạng này khởi điểm không được các nhà đầu tư chú ý tới nên nó sẽ dẫn tới việc giá thị trường của cổ phiếu sẽ bị đẩy giảm xuống thấp hơn so với giá trị thật xét về cơ hội và năng lực kinh doanh của doanh nghiệp phát hành chúng; nhà đầu tư theo giá trị sẽ chớp lấy thời cơ này, dựa trên việc xác định được giá trị thật của cổ phiếu thông qua việc phân tích tài chính, đánh giá doanh nghiệp trong nhiều mối tương quan và đầu tư vào chúng với kỳ vọng về giá trị do doanh nghiệp mang lại (thường là cổ tức) chứ không phải là bằng việc “lướt sóng”, hưởng chênh lệch giá trị thị trường.

Xem xét về lịch sử phát triển của triết lý đầu tư này, lịch sử thị trường chứng khoán đã ghi lại rất nhiều cái tên tầm cỡ thế giới thành công bằng việc áp dụng các triết lý này trong hoạt động đầu tư của họ và cũng chính họ là các minh chứng cho hiệu quả bền vững của triết lý đầu tư này.

Trong số họ, có thể kể đến một số các nhà đầu tư thành công nhất như: Warren Buffett, Charlie Munger, Walter Schloss, William J. Ruane, Irving Kahn, Charles Brandes, Mario Gabelli, Bruce Greenwald, Seth Klarman, John Templeman, Joel Greenblatt, Martin J. Whitman, và Max Heine – điểm chung của họ là đều áp dụng một cách sáng tạo các triết lý về đầu tư theo giá trị của Graham trong việc đầu tư. Và như tỷ phú Warren Buffett – người học trò thành công nhất của Graham – đã từng phát biểu: “Đi theo các triết lý của Graham tức là bạn sẽ có được các lợi ích từ sự điên rồ của thị trường hơn là việc bạn là một phần của sự điên rồ đó”.

Và điều gì đã làm nên thành công của triết lý này? Theo chính Graham, triết lý đầu tư theo giá trị có một số nguyên tắc và khái niệm là nền tảng cho mọi sự vận dụng trong hoạt động đầu tư và đây cũng là những điểm cốt lõi mà ông đã đúc kết từ việc ứng dụng triết lý đầu tư này trên thực tế.

Hai nguyên tắc đặc biệt nổi bật trong số các nguyên tắc này đó là:

  • Luôn luôn đứng trên quan điểm mình là người chủ của doanh nghiệp khi phân tích về doanh nghiệp đó.

  • Luôn luôn tính toán sự bất hợp lý của giá cả thị trường trong ngắn hạn để tìm ra giá trị thực sự của cổ phiếu trong dài hạn. 

Hai nguyên tác này là điều mà bất cứ nhà đâu tư giá trị nào cũng không được phép quên trong quá trình đánh giá của một cổ phiếu ít được chú ý trên thị trường để mua, các nhà đầu tư theo giá trị cũng phải tuân theo các nguyên tắc bổ sung để xác định giá trị nội tại (intrinsic value) và giá trị an toàn cận biên (margin of safety) cho cổ phiếu họ đang định đầu tư.

Nhìn chung lại, nếu bạn là một nhà đầu tư theo giá trị hay mong muốn trở thành một nhà đầu tư theo giá trị, bạn cần quan tâm đến các nguyên tắc đầu tư theo giá trị như sau:

  •  Hình thành thói quen tiếp cận, xem xét và xác định định giá trị thực của cổ phiếu theo quan điểm của một chủ sở hữu doanh nghiệp. Hãy tưởng tượng bạn đã sở hữu cả doanh nghiệp – bạn sẽ cảm thấy việc bạn mua cổ phiếu (một hình thái của chứng khoán) tương đương với việc bạn đang mua cho mình các quyền sở hữu của doanh nghiệp phát hành, và bạn sẽ luôn cẩn trọng trong việc đánh gía vì bạn đang muốn tìm hiểu xem tài sản của mình thực tế đang có giá trị là bao nhiêu.
  • Luôn luôn giả định rằng thị trường đã đánh rớt giá cổ phiều của bạn xuống dưới mức giá trị thực của chúng, và luôn nhớ rằng giá cả không bao giờ liên quan đến giá trị thực tế của chứng khoán hoặc giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp bạn đang định sở hữu. Nếu chúng càng cách biệt, điều đó càng có lợi cho bạn vì bạn sẽ có thể bỏ ra ít tiền hơn để mua một doanh nghiệp có tiềm năng sẽ mang lại nhiều giá trị hơn cả bạn mong đợi.
  • Xác định giá trị nội tại của cổ phiếu, có thể là trên phạm vi rộng, và công việc này thường là việc bạn ước tính chúng vì việc tính toán giá trị nội tại theo mọi cách hiểu đều không phải là một môn khoa học chính xác.
  • Xác định giá trị an toàn cận biên – nói theo cách khác, là giá tri thị trường của cổ phiếu đã thấp đủ để vượt qua bất kỳ sự rủi ro về mặt cảm tính (tâm lý thị trường) hoặc khi thị trường suy thoái – và hãy ra quyết định đầu tư thật dứt khoát khi tất cả các bằng chứng chỉ ra đây một sự đầu tư đáng giá trong dài hạn.
Nguồn: Sưu tầm

Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017

Về 10 điều mà Fisher cho rằng nhà đầu tư nên tránh (theo Fisher)

 


1.      Không nên mua cổ phiếu ở các công ty đang trong quá trình hình thành và phát triển

Đứng trên quan điểm đầu tư, Fisher cho rằng điểm khác biệt cơ bản giữa những công ty mới thành lập và những công ty đã hoạt động ổn định đó là:

Ở những công ty đã ổn định, mọi chức năng chính của hoạt động kinh doanh đều được thiết lập và vận hành trơn tru. NĐT có thể quan sát dây chuyền sản xuất, doanh thu, chi phí, đội ngũ quản lý và tất cả các khía cạnh khác của quá trình hoạt động…

Ở những công ty đang trong quá trình hình thành và phát triển thì tất cả những việc mà NĐT có thể làm là lên kế hoạch và dự đoán những khó khăn và lợi thế của công ty. Đây là vấn đề phức tạp hơn nhiều so với những việc cần làm ở những công ty đã hoạt động trong một thời gian dài. Nguy cơ mắc sai lầm có thể xuất hiện trong quá trình đưa ra kết luận. Thông thường, những công ty non trẻ có một vài cá nhân có tài lãnh đạo trong một giai đoạn nào đó của chu trình kinh doanh, tuy nhiên họ lại thiếu kiến thức trong nhiều lĩnh vực quan trọng không kém.
Vì những lý do trên, tác giả cho rằng mặc dù công ty đang phát triển đó có vẻ ngoài hấp dẫn thế nào, vấn đề tài chính của nó cũng nên để các chuyên gia thẩm định bởi họ có đội ngũ quản lý đủ trình độ để sửa chữa những khuyết điểm mà các công ty non trẻ chưa để ý đến.
Thực tế chứng minh: Có tới 95% start-ups phá sản trong 5 năm đầu tiên!?

2. Không nên bỏ qua những cổ phiếu chưa được niêm yết (những cổ phiếu giao dịch trên OTC hoặc Upcom)


Tính hấp dẫn của cổ phiếu chưa được niêm yết khác với cổ phiếu niêm yết là tính thanh khoản (khả năng mua — bán). Tác giả cho rằng nếu xác định được một doanh nghiệp tốt thì không nên e ngại chỉ vì cổ phiếu của nó chưa được giao dịch trên các sàn.
Lịch sử chứng minh những cổ phiếu có tốc độ tăng phi mã trên Upcom như SDI, MSR, VEF… hoặc
cổ phiếu ô tô Trường Hải, MSH trên OTC…

3. Không nên mua cổ phiếu chỉ bởi bạn thích các báo cáo hàng năm của nó

Thông thường, báo cáo thường niên thể hiện tầm nhìn và hành động của ban điều hành công ty trong năm sắp tới. Tuy nhiên, tác giả cho rằng rất nhiều doanh nghiệp, BGĐ không tự tay viết bản báo cáo này, mà nhiệm vụ này được giao cho một bộ phận chuyên trách mang tính hình thức để gửi cho cổ đông. Nếu bạn để cho chữ nghĩa và giọng điệu của bản BCTN ảnh hưởng đến quyết định mua cổ phiếu của mình thì nó cũng giống như việc bạn mua một sản phẩm chỉ bởi hình ảnh đầy lôi cuốn trên bảng quảng cáo.

NĐT nên xem xét thấu đáu và cân nhắc về những vấn đề thực sự trong kinh doanh.

4. Không nên lo lắng khi chỉ số P/E quá cao

Fisher cho rằng chỉ số P/E quá cao có thể là một dấu hiệu cơ bản chỉ ra rằng mức tăng cao hơn của khoản thu nhập (E) trong tương lai phần lớn đã được phản ánh ở mức giá hiện tại. Điều thực sự quan trọng ở đây là phải nắm rõ tình trạng của công ty, đặc biệt là phải xét đến các dự định của nó trong những năm sắp tới. Nếu như đợt tăng lợi nhuận trong những năm đó chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn và công ty không có nguồn tăng lợi nhuận tiếp theo, khi mà nguồn lực hiện tại đã tận dụng hết, thì vấn đề lại hoàn toàn khác.
Kinh nghiệm cho thấy, duy trì ổn định lợi nhuận tằng dần qua các năm quan trọng hơn nhiều sự đột biến “bất thường”.

5. Không nên quan trọng hóa những bước giá nhỏ như 1/8 hay 1/4


Tác giả cho rằng khi đã tìm được cổ phiếu tốt thì không nên chỉ vì những bước giá quá nhỏ mà không mua chúng. Những giá phải trả thêm thật sự là không quan trọng so với mức lợi nhuận mà bạn sẽ bỏ lỡ nếu không mua cổ phiếu đó. Nếu cổ phiếu không thuộc loại có tiềm năng tăng trưởng dài hạn thì Fisher khuyên rằng ngay từ đầu NĐT không nên quyết định mua.

6. Không nên đa dạng hóa quá mức danh mục


NĐT đề cao sự đa dạng hóa với nỗi lo sẽ đặt quá nhiều trứng vào một giỏ và rồi khiến họ mua quá ít cổ phần của những công ty mà họ hiểu rõ và quá nhiều cổ phần của những công ty mà họ chẳng có chút hiểu biết nào. Dường như NĐT chẳng bao giờ nhận thức được rằng mua cổ phần của một công ty mà không có đủ kiến thức về nó còn nguy hiểm hơn là không đa dạng hóa. Đó chính là bất lợi của việc đặt trứng vào quá nhiều giỏ để rồi cuối cùng lại rơi vào chiếc giỏ không mấy hấp dẫn và cũng không thể nào canh chừng được tất cả các giỏ đựng trứng đó.

Kinh nghiệm cho thấy, thông thường một danh sách dài các chứng khoán trong danh mục không phải là một dấu hiệu của NĐT thông minh, mà là dấu hiệu của người không tin vào bản thân. NĐT có đầu óc thực tế thường nhận ra rằng anh ta nên tìm kiếm các khoản đầu tư có giá trị thay vì lựa chọn quá nhiều (giữ danh mục trong khoảng 5–10 mã là vừa phải với số vốn dưới 20 tỷ).

7. Đừng e ngại mua vì lo sợ chiến tranh

Chiến tranh khiến các chính phủ phải chi tiêu nhiều hơn mức có thể thu được từ thuế khi cuộc chiến đang tiếp diễn. Hệ quả là lượng tiền tăng gấp bội nên đồng tiền bị mất giá (lạm phát) dẫn đến giá cổ phiếu rẻ hơn giá trị thực. Fisher cho rằng đây là thời điểm ko nên sở hữu quá nhiều tiền mặt.

8. Không nên sa vào những vấn đề không thực sự quan trọng


Có một thực tế là rất nhiều NĐT thường đặt sự chú ý quá mức vào những con số thống kê tài chính, các bản báo cáo tài chính bề ngoài. Điều gì tạo ra mức giá bán của cổ phiếu? Chính là sự định giá chung tại thời điểm cổ phiếu bán ra của tất cả những người liên quan nghĩ rằng mức giá đó thể hiện giá trị chuẩn xác của cổ phiếu. Fisher cho rằng việc biết được những gì có thể sẽ xảy ra trong vài năm tới mới thật sự quan trọng.

9. Đừng quên xem xét thời điểm cũng như giá khi mua một cổ phiếu tăng trưởng thực sự


10. Đừng chạy theo đám đông


Những xu hướng đầu tư nhất thời và cách hiểu sai lệch về các sự kiện thực tế có thể kéo dài trong vài tháng hoặc vài năm. Tuy nhiên, xét trong dài hạn thì chính thực tiễn sẽ không chỉ xóa bỏ những xu hướng đó mà thường đến một thời điểm còn giúp những cổ phiếu bị ảnh hưởng này tiến xa theo hướng hoàn toàn ngược lại. Khả năng nhìn thấu quan điểm của số đông để tìm ra sự thật đằng sau chúng là một tố chất sẽ mang lại phần thưởng giá trị trong lĩnh vực đầu tư cổ phiếu. Không dễ dàng để thay đổi quan điểm chung của những người có sức ảnh hưởng lớn, tuy nhiên có một nhân tố mà tất cả chúng ta có thể nhận ra và giúp ngăn chặn chúng ta chạy theo số đông. Đó là nhận thức rằng giới tài chính luôn không bắt kịp những điều kiện thay đổi căn bản trừ khi một sự kiện gây tiếng vang hay nổi bật liên quan đến thay đổi đó mà mọi người đều biết.

Kết luận

Trước khi mua cổ phiếu NĐT cần trả lời câu hỏi “Điều gì khiến công ty trở nên khác biệt so với đối thủ?” Như Warren Buffet đã từng nói “Tôi đầu tư vào doanh nghiệp chứ không đầu tư vào cổ phiếu. Giá cả là cái bạn trả còn giá trị là thứ bạn nhận được”. Việc tránh những sai lầm mà Fisher chia sẻ trong cuốn sách này có thể giúp chúng ta tiến gần hơn tới thành công trong lĩnh vực đầu tư đầy thách thức nhưng rất thú vị và trí tuệ này.


Nguồn medium.com







Chủ Nhật, 19 tháng 3, 2017

Kiếm tiền 100 triệu/giờ nhờ đầu tư cổ phiếu

 


Tôi đúc kết lại những gì đã học thành những lời khuyên sau đây:

– Về dạn hạn, giá cổ phiếu phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty. Trong ngắn hạn, giá cổ phiếu phụ thuộc vào quy luật cung cầu.

– Cổ phiếu thích hợp để đầu tư dài hạn.

– Chơi cổ phiếu ngắn hạn không thích hợp với phần lớn mọi người.

– Đối với phần lớn mọi người, phân tích một công ty nào đó là việc không phù hợp (thậm chí không khả thi).

– Phần lớn mọi người tốt hơn hết là mua theo VN-Index và nắm giữ lâu dài, càng lâu càng tốt. Có thể kết hợp với cách bình quân giá mua (vd: mỗi tháng bỏ ra 1 triệu để dành, 1 năm mua 1 lần).
– Đừng dự đoán giá cổ phiếu của công ty nào đó sẽ tăng hay giảm vào ngày mai.

– Đừng dự đoán VN-Index sẽ tăng hay giảm vào ngày mai, tuần sau, tháng sau, thậm chí là năm sau.

– Về lâu dài, những người mua và nắm giữ VN-Index sẽ đánh bại hầu hết các quỹ đầu tư chuyên nghiệp và cả những người đầu tư “tích cực” trên thị trường.

– Để đầu tư cổ phiếu thành công, nhà đầu tư không cần phải biết về P/E, về tài chính doanh nghiệp, về các loại chart, về beta, về các lý thuyết thị trường, về các mô hình,… Phần lớn mọi người KHÔNG nên biết về những cái đó để có thể đầu tư cổ phiếu thành công.

– Cổ phiếu là dành cho mọi người.

– Ngoài cổ phiếu và nhà đất ra, còn những loại hình “đầu tư” khác đều cho kết quả rất kém (sau khi đã tính trượt giá vào) về lâu dài.

– Cổ phiếu nên là một phần không thể thiếu trong danh mục đầu tư cá nhân của mỗi người.

Chúc mọi người đầu tư chứng khoán thành công.


Chú ý: Các kết quả trong quá khứ không hề bảo đảm tương lai sẽ giống như vậy. Người viết bài này không chịu bất kỳ trách nhiệm nào đối với kết quả của bất kỳ ai sử dụng thông tin từ bài viết.

Tổng hợp từ internet

Thứ Sáu, 17 tháng 3, 2017

Công thức 'mạnh' cho thương hiệu Việt

Như ý của bài báo này khẳng định thì một thương hiệu mạnh là một thương hiệu có sản phẩm chất lượng tốt và có chất lượng dịch vụ tốt đối với khách hàng.


VTC.VN - Vị CEO huyền thoại của Starbucks Howard Schultz đã từng nói về thành công của Starbucks: “Marketing rất quan trọng. Nhưng bản thân markeing không làm nên thương hiệu. Chính con người bên trong của mỗi ông chủ doanh nghiệp, tình yêu và sự liêm chính của họ mới làm nên thương hiệu”.

Theo ông Nguyễn Đức Sơn - Giám đốc Điều hành Công ty Tư vấn thương hiệu Richard Moore (Mỹ), một trong những dấu hiệu quan trọng của một thương hiệu mạnh là thời gian khách hàng ra quyết định mua hàng nhanh hơn, ít nhạy cảm về giá và ít soi xét các đặc tính lý tính của thương hiệu.

Khi một thương hiệu vượt được ngưỡng niềm tin về các đặc tính vật lý để người tiêu dùng có thể chọn lựa ngay khi nghe tên thì đó là dấu hiệu của một thương hiệu mạnh.


Theo cách hiểu này, liệu các doanh nghiệp Việt Nam đã có các thương hiệu bền vững?

Sau khi Việt Nam mở cửa thị trường đã xuất hiện của những thương hiệu nổi tiếng như Biti’s, Kinh Đô, Thiên Long… Tiếp đó, một số thương hiệu bản địa như Vinamilk, Vinacafe, Trung Nguyên, Nutifood, Masan... cũng phát triển mạnh mẽ và cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn đa quốc gia.

Hãng tư vấn định giá thương hiệu Brand Finance (Anh) vừa công bố danh sách Top 50 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam năm 2016, cho thấy các thương hiệu Việt tăng trưởng về quy mô giá trị (từ 5,5 tỷ lên 7,26 tỷ USD).

Tuy nhiên, để có những thương hiệu Việt tăng trưởng mạnh mẽ và bền vững hơn còn nhiều điều đáng bàn. Vì bên cạnh những thương hiệu có doanh thu lớn, cũng không ít thương hiệu nổi tiếng đã biến mất hoặc phải bán lại cho các doanh nghiệp nước ngoài.

Nói về kinh nghiệm xây dựng thương hiệu mạnh của Suntory PepsiCo Việt Nam, ông Nguyễn Văn Phương, Tổng Giám đốc Học viện Sage, nhận định, sức mạnh của những thương hiệu quốc tế như Suntory PepsiCo Việt Nam duy trì trong hơn 23 năm qua chính là giữ vững một cam kết chất lượng trên toàn cầu đối với mọi sản phẩm.

Ở góc độ nhận biết của người tiêu dùng, Suntory PepsiCo Việt Nam là sự kết hợp giữa một thương hiệu Mỹ đại diện cho giới trẻ sôi nổi, và một thương hiệu Nhật đại diện cho xu hướng hài hòa giữa con người và thiên nhiên với cùng một mục tiêu là hướng tới một cam kết chất lượng cho sản phẩm.

Đây như một “chiến lược thương hiệu kép”, thường là một công cụ hữu ích giúp tối đa giá trị sáng tạo ở thị trường mới nổi khi ý thức về sức khỏe và tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe ngày càng cao. Đó là lý do tại sao những sản phẩm của Suntory PepsiCo Việt Nam như Pepsi, Sting, Aquafina hay Ô Long TEA+ Plus… luôn đạt được sự tin cậy của người tiêu dùng mọi lứa tuổi.

“Chỉ có xây dựng chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn khắt khe của quốc tế là con đường phát triển bền vững nhất cho các doanh nghiệp Việt Nam”, ông Phương nhận định.

Áp lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước ngày càng tăng lên, không chỉ xây dựng chiến lược sản phẩm tiêu dùng cho thị trường gần 100 triệu dân, mà còn phải có thương hiệu và sản phẩm để cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Theo bà Phạm Thị Việt Nga, Tổng Giám đốc Dược Hậu Giang khẳng định, trước yêu cầu hội nhập, việc khẳng định lại chất lượng sản phẩm, chất lược phục vụ được đặt lên hàng đầu. Đã đến lúc người ta nhìn một doanh nghiệp ở chất lượng, chứ không phải là những thứ bề nổi.

Chắc chắn nhiều người tiêu dùng sẽ đặt câu hỏi tại sao cũng vướng phải những thông tin không được kiểm chứng, nhưng những thương hiệu quốc tế như Suntory PepsiCo Việt Nam vẫn có thể đứng vững vàng? Câu trả lời là: thương hiệu này đã đạt được niềm tin đủ lớn của người tiêu dùng toàn cầu, tạo ra được “quyền lực mềm” của thương hiệu để thuyết phục cả cảm xúc và lý trí của người dùng.

Đặc biệt trong thời điểm bùng nổ kết nối truyền thông, mạng xã hội, thương hiệu và sản phẩm phải đối diện với dư luận hằng ngày, hằng giờ. Khi doanh nghiệp đưa ra một cam kết, khách hàng sẽ có xu hướng tìm kiếm những bằng chứng để trả lời cho thắc mắc: liệu lời hứa này có đáng tin?

Vì thế, lời hứa thương hiệu không phải để trở thành thông điệp quảng cáo ồn ào, mà phải là tôn chỉ hành động của mỗi nhân viên của doanh nghiệp. Những doanh nghiệp lớn, những thương hiệu mạnh đơn giản là đã hứa thì sẽ giữ đúng lời hứa một cách liêm chính và chân thành đối với khách hàng của mình.

Có thể thấy, những bài học của Starbucks hay Suntory PepsiCo Việt Nam không quá xa vời với doanh nghiệp Việt Nam trên con đường hướng tới những thương hiệu “mạnh” nếu biết đặt niềm tin khách hàng lên trên mọi tính toán.

(theo VTC)