Hiển thị các bài đăng có nhãn tăng trưởng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tăng trưởng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2018

Một số điều rút ra về đầu tư chứng khoán

  • Thị trường luôn biến động, thấy đổi không ngừng. Thị giá luôn biến động lúc lên và lúc xuống.
  • Lợi tức là không quan trọng. Công ty không trả lợi tức và để dồn tiền vào đầu tư phát triển vượt bậc trong tương lai là quan trọng. Hãy tìm những "chiếc túi 10 gang".

  • Đầu tư vào công ty mà sản phẩm thuộc ngành nghề mà bạn hiểu được. Ví dụ khi bạn 
  • Không quyết định mua một cổ phiếu chỉ dựa trên các báo cáo thường niên hay số liệu tăng trưởng trong quá khứ. Tình hình kinh doanh trong tương lai của công ty như thế nào là quan trọng.
  • Chỉ nên đầu tư vào các công ty đã trưởng thành và có đường hướng phát triển ổn định.
  • Không nên mua cổ phiếu của một công ty khi không thỏa mãn 15 tiêu chí của Philip Fisher (hay ít nhất là 13 tiêu chí) hay khi chưa "làm bài tập ở nhà" về công ty đó.
  • Luôn tìm được cổ phiếu tốt trong số các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán để đầu tư (mà thỏa mãn 15 tiêu chí của Philip Fisher).
  • Quyết định đầu tư vào một công ty được đưa ra khi thị giá của cổ phiếu thấp hơn giá trị của công ty. Khoảng này gọi là biên độ an toàn - để tiền của bạn không bị mất khi thị trường biến động.
  • Hãy để ý đến thời điểm mua.
  • Các bước giá nhỏ như 0.5 hoặc 1 điểm là không quan trọng.
  • Đầu tư vào cổ phiếu là đầu tư để thu lại lợi nhuận một cách thỏa đáng.

Tình hình tăng trưởng của công ty trong tương lại có thể dự đoán được như sau.

- Tiềm năng tăng trưởng (công ty có sản phẩm mới, dây truyền mới hay công nghệ mới).

- Doanh thu và lợi nhuận tương lai.

- Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển.

- Quản lý nhân sự. Mối quan hệ của Bạn lãnh đạo với nhân viên như thế nào.

- Cắt giảm chi phí để tăng lợi nhuận.

- Marketing. không thể tăng doanh thu nếu như không có marketing.

- Bạn lãnh đạo có đồng thuận không. Chiến lược trong tương lai ra sao.

- Mối quan hệ của công ty với: khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, nhân viên.

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2018

Cách tính PEG (Price-Earnings Ratio)


Cách tích PEG như sau.

Các ví dụ tính toán PEG Ratio Để tính tỷ lệ PEG, và nhà đầu tư hoặc nhà phân tích cần phải tính tỷ lệ P / E đầu tiên của công ty được đề cập. Tỷ lệ P / E được tính bằng giá mỗi cổ phần của công ty chia cho thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS):

P/E ratio = Price per share / EPS

Một khi P / E được tính toán, công thức của PEG chỉ đơn giản là:

PEG ratio = P/E ratio / earnings growth rate

Giả sử các dữ liệu sau cho hai công ty, Công ty A và Công ty B:

Company A price per share = $46

Company A EPS this year = $2.09

Company A EPS last year = $1.74



Company B price per share = $80

Company B EPS this year = $2.67

Company B EPS last year = $1.78



Với thông tin này, các dữ liệu sau có thể được tính cho mỗi công ty:

Company A P/E ratio = $46 / $2.09 = 22

Company A earnings growth rate = ($2.09 / $1.74) - 1 = 20%

Company A PEG ratio = 22 / 20 = 1.1



Company B P/E ratio = $80 / $2.67 = 30

Company B earnings growth rate = ($2.67 / $1.78) - 1 = 50%

Company B PEG ratio = 30 / 50 = 0.6

Nhiều nhà đầu tư có thể nhìn vào Công ty A và thấy nó hấp dẫn hơn vì nó có mức P / E thấp hơn giữa hai công ty. Nhưng so với công ty B, nó không có tốc độ tăng trưởng đủ cao để biện minh cho chỉ số P / E. Công ty B đang giao dịch ở mức chiết khấu với tốc độ tăng trưởng của nó và các nhà đầu tư mua nó đang trả ít hơn cho mỗi đơn vị tăng trưởng lợi nhuận.

Tóm lại các cổ phiếu có PEG nhỏ hơn 1 là cổ phiếu tăng trưởng tốt và nên mua.

Nguồn: https://www.investopedia.com/terms/p/price-earningsratio.asp 

Thứ Hai, 26 tháng 2, 2018

So sánh tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam với các nước trong khu vực



Giai đoạn phát triển thần kì của Nhật Bản từ năm 1952 đến 1973.

Kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng gần như liên tục từ mức vài tỷ USD đến mức ngàn tỷ USD trong chưa đầy một nửa thế kỷ, từ năm 1960 đến 2007 (nguồn wikipedia).

So sánh GDP-PPP giữa Việt Nam và các nước công nghiệp mới qua các năm 1980-2014 (nguồn wikipedia)

Tăng trưởng GDP thực giai đoạn 1980-2010

Thứ Ba, 13 tháng 2, 2018

Peter Lynch tìm cổ phiếu bị định giá thấp như thế nào?

Peter Lynch đã trở thành một nhà đầu tư tăng trưởng hơn là một nhà đầu tư giá trị. Nguyên tắc đầu tư của ông là tìm kiếm các công ty lớn khi chúng tương đối nhỏ nhưng có tiềm năng trở nên lớn trong tương lai. Bạn nên đọc cuốn sách của mình để hiểu triết lý đầu tư của mình Mua Một Trên Phố Wall: Cách Sử dụng Những gì Bạn Đã Biết để Kiếm tiền Trong Sách Thị trường Online ở mức giá thấp ở Ấn Độ. Từ bài báo Chọn cổ phiếu Giống như Peter Lynch bạn có thể nhận được một số hiểu biết về Peter Lynch phương pháp chọn cổ phiếu tốt.

1. Chỉ mua những gì bạn hiểu 

Theo Lynch, công cụ nghiên cứu cổ phiếu lớn nhất của chúng tôi là mắt, tai và ý nghĩa thông thường của chúng tôi. Lynch tự hào vì thực tế rằng nhiều ý tưởng cổ phiếu tuyệt vời của ông đã được phát hiện trong khi đi bộ qua cửa hàng tạp hoá hoặc trò chuyện tình cờ với bạn bè và gia đình. Tất cả chúng ta đều có khả năng phân tích trực tiếp khi chúng ta đang xem TV, đọc báo, hoặc nghe radio. Khi chúng tôi lái xe trên đường phố hoặc đi nghỉ mát, chúng tôi cũng có thể tìm ra các ý tưởng đầu tư mới. Xét cho cùng, người tiêu dùng chiếm 2/3 tổng sản phẩm quốc nội của Hoa Kỳ. Nói cách khác, hầu hết thị trường chứng khoán là trong kinh doanh phục vụ bạn, người tiêu dùng cá nhân - nếu điều gì đó thu hút bạn như một người tiêu dùng, nó cũng sẽ gợi cảm xúc của bạn như là một sự đầu tư.

2. Luôn luôn làm bài tự nghiên cứu của bạn

Quan sát đầu tiên và bằng chứng giai thoại là một khởi đầu tuyệt vời, nhưng tất cả những ý tưởng tuyệt vời cần được theo đuổi với nghiên cứu thông minh. Đừng nhầm lẫn bởi tính đơn giản của Peter Lynch khi làm việc nghiên cứu siêng năng - nghiên cứu nghiêm ngặt là một nền tảng cho sự thành công của ông.

Khi theo đuổi ý tưởng sáng tạo ban đầu, Lynch nhấn mạnh một số giá trị cơ bản mà ông ta mong đợi sẽ được đáp ứng cho bất kỳ cổ phiếu nào đáng mua:

Phần trăm doanh số bán hàng: 

Nếu có một sản phẩm hoặc dịch vụ thu hút ban đầu bạn đến công ty, hãy đảm bảo rằng nó có tỷ lệ doanh thu cao đủ để có ý nghĩa; một sản phẩm tuyệt vời mà chỉ chiếm 5% doanh số bán hàng sẽ không có nhiều hơn một tác động biên của một công ty.

Tỷ lệ PEG:

Tỷ lệ này được định giá để tăng trưởng lợi nhuận nên được xem xét để xem có bao nhiêu kỳ vọng được xây dựng vào cổ phiếu. Bạn muốn tìm kiếm các công ty có tăng trưởng lợi nhuận và định giá hợp lý - một công ty mạnh với tỷ lệ PEG hai hoặc nhiều hơn đã tăng trưởng lợi nhuận đã được tích hợp vào giá cổ phiếu, để lại ít chỗ cho lỗi.

Cách tích PEG như sau.
Các ví dụ tính toán PEG Ratio Để tính tỷ lệ PEG, và nhà đầu tư hoặc nhà phân tích cần phải tính tỷ lệ P / E đầu tiên của công ty được đề cập. Tỷ lệ P / E được tính bằng giá mỗi cổ phần của công ty chia cho thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS): 
P/E ratio = Price per share / EPS 
Một khi P / E được tính toán, công thức của PEG chỉ đơn giản là: 
PEG ratio = P/E ratio / earnings growth rate 
Giả sử các dữ liệu sau cho hai công ty, Công ty A và Công ty B:
Company A price per share = $46
Company A EPS this year = $2.09
Company A EPS last year = $1.74

Company B price per share = $80
Company B EPS this year = $2.67
Company B EPS last year = $1.78

Với thông tin này, các dữ liệu sau có thể được tính cho mỗi công ty:
Company A P/E ratio = $46 / $2.09 = 22
Company A earnings growth rate = ($2.09 / $1.74) - 1 = 20%
Company A PEG ratio = 22 / 20 = 1.1

Company B P/E ratio = $80 / $2.67 = 30
Company B earnings growth rate = ($2.67 / $1.78) - 1 = 50%
Company B PEG ratio = 30 / 50 = 0.6 
Nhiều nhà đầu tư có thể nhìn vào Công ty A và thấy nó hấp dẫn hơn vì nó có mức P / E thấp hơn giữa hai công ty. Nhưng so với công ty B, nó không có tốc độ tăng trưởng đủ cao để biện minh cho chỉ số P / E. Công ty B đang giao dịch ở mức chiết khấu với tốc độ tăng trưởng của nó và các nhà đầu tư mua nó đang trả ít hơn cho mỗi đơn vị tăng trưởng lợi nhuận.

Ưu đãi các công ty có vị trí tiền mặt mạnh và tỷ lệ nợ / vốn chủ sở hữu dưới mức trung bình. 

Dòng tiền mặt mạnh mẽ và quản lý tài sản thận trọng cho phép công ty lựa chọn trong tất cả các loại môi trường thị trường. (Để biết thêm thông tin về vấn đề này, xem Các khái quát về dòng tiền, Tìm kiếm bò tiền mặt và đánh giá cấu trúc vốn của công ty.)

3. Đầu tư cho dài hạn 

Lynch đã nói rằng "vắng mặt rất nhiều bất ngờ, cổ phiếu có thể dự đoán tương đối trong vòng 10 đến 20 năm. Liệu họ có thể tăng hoặc giảm trong vòng hai hoặc ba năm, bạn cũng có thể lật một đồng xu để quyết định." Có thể có vẻ đáng ngạc nhiên khi nghe những lời như vậy từ một huyền thoại phố Wall, nhưng nó làm nổi bật như thế nào đầy đủ ông tin vào triết lý của mình. Ông đã giữ kiến ​​thức về các công ty mà ông sở hữu, và miễn là câu chuyện không thay đổi, ông đã không bán. Lynch đã không cố gắng để thị trường thời gian hoặc dự đoán hướng của nền kinh tế tổng thể.

Một công trình khác Công thức bí mật của Peter Lynch về Đánh giá sự tăng trưởng của cổ phiếu nhấn mạnh vào phương pháp định giá sử dụng tỷ lệ PEG. "Tỷ lệ p / e của bất kỳ công ty nào có giá tương đương sẽ bằng tốc độ tăng trưởng của nó ... Nếu p / e của Coca-Cola là 15, bạn có thể mong đợi công ty sẽ tăng trưởng khoảng 15 phần trăm một năm, vv Nhưng nếu tỷ lệ p / e thấp hơn tốc độ tăng trưởng, bạn có thể thấy mình là một món hời. Một công ty, với tốc độ tăng trưởng 12% / năm ... và tỷ lệ ap / e của 6 là rất hấp dẫn Mặt khác, một công ty có tốc độ tăng trưởng 6% / năm và tỷ lệ ap / e là 12 là một viễn cảnh không hấp dẫn và sẽ đi đến hồi kết. " Nhìn chung, tỷ lệ p / e là một nửa tốc độ tăng trưởng là rất tích cực, và một trong hai lần tăng trưởng là rất tiêu cực. " 

Theo quan điểm của Ấn Độ, các cổ phiếu có những phẩm chất mà Peter Lynch khuyến cáo và thời gian tốt nhất để chọn chúng là khi chúng không được biết đến. Đây là loại cổ phiếu mà các nhà đầu tư thông thường có thể nhận ra bằng cách chỉ là những khách hàng hài lòng.

Maruti Suzuki: Từ năm 2012, cổ phiếu đã trở thành túi 5 gang.

Eicher Motor: Người chế tạo xe máy Royal Enfield, là chiếc túi 10 gang nếu được mua vào năm 2012.

Symphony: Sản xuất máy điều hòa, đã trở thành chiếc túi 50 gang nếu mua vào năm 2010.

Page Industries: Chủ sở hữu của Jockey Brand ở Ấn Độ, có thể đã trở thành chiếc túi 10 gang nếu được mua vào năm 2011.

Tóm lại
Mặc dù có rủi ro khi đa dạng hóa quỹ của mình (ông đã sở hữu hàng ngàn cổ phiếu ở những thời điểm nhất định), nhưng khả năng thực hiện và khả năng chọn hàng của Peter Lynch đã trở thành hiện thực. Ông đã trở thành một bậc thầy về nghiên cứu môi trường của mình và hiểu thế giới như nó và nó có thể là gì trong tương lai. Bằng cách áp dụng bài học và quan sát của chính mình, chúng ta có thể tìm hiểu thêm về đầu tư trong khi tương tác với thế giới của chúng ta, làm cho quá trình đầu tư trở nên thú vị và có lợi nhuận hơn.

Nguồn

Thứ Năm, 14 tháng 12, 2017

Kaizen là gì? Lợi ích từ việc ý thức Kaizen?

1. Kaizen là gì?

Kaizen là một thuật ngữ kinh tế của người Nhật, được ghép bởi từ 改 (“kai”) có nghĩa là thay đổi và từ 善 (“zen”) có nghĩa là tốt hơn, tức là “thay đổi để tốt hơn” hoặc “cải tiến liên tục”. Thuật ngữ này trong tiếng Anh là “ongoing improvement” hoặc “continuous improvement” và trong tiếng Trung, Kaizen được phát âm là Gansai, nghĩa là hành động liên tục cải tiến, mang lại lợi ích vì tập thể hơn là lợi ích của cá nhân.



Trong cuốn sách “Kaizen: Chìa khóa thành công của người Nhật”. Kaizen được định nghĩa như sau: “Kaizen có nghĩa là cải tiến “. Hơn nữa, Kaizen còn có nghĩa là cải tiến liên tục trong đời sống cá nhân, đời sống gia đình, đời sống xã hội và môi trường làm việc. Khi Kaizen được áp dụng vào nơi làm việc có nghĩa là sự cải tiến liên tục liên quan tới tất cả mọi người – ban lãnh đạo cũng như mọi nhân viên”.
Tại Nhật Bản, Kaizen đã có lịch sử hơn 50 năm và Toyota là công ty đầu tiên triển khai Kaizen. Trước kia, Kaizen chủ yếu được áp dụng trong các công ty sản xuất như Toyota, Canon, Honda… Sau đó, Kaizen được áp dụng rộng rãi trong mọi công ty thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và hiện nay, hầu hết các công ty của Nhật đều đang thực hiện Kaizen. Triết lý này không chỉ giới hạn trong ngành sản xuất mà còn có thể áp dụng được trong ngành dịch vụ, kinh doanh bán lẻ và thậm chí là một khóa học bất kì nào đó.  Triết lý này cũng thích hợp đối với đời sống cá nhân của mỗi người.


Trong lần xuất bản năm 1993 của “The New Shorter Oxford English Dictionary”, từ “Kaizen” cũng được bổ sung và định nghĩa như sau: Kaizen là sự cải tiến liên tục quá trình làm việc, nâng cao năng suất, …v.v. như một triết lý kinh doanh”. Ngày nay, Kaizen được nhắc tới như một triết lý kinh doanh, phương pháp quản lý hữu hiệu làm nên thành công của các công ty Nhật Bản. Tuy vậy, những cải tiến trong Kaizen là những cải tiến nhỏ, mang tính chất tăng dần và quá trình Kaizen mang lại kết quả ấn tượng trong một thời gian dài.
Khái niệm Kaizen lý giải vì sao các công ty Nhật Bản không thể duy trì mãi một trạng thái trong một thời gian dài. Trong khi đó, cách quản lý của phương Tây lại sùng bái Đổi mới: tạo ra những thay đổi lớn sau những đột phá về công nghệ, những tư tưởng quản lý và kỹ thuật sản xuất mới nhất. Nếu Kaizen là một quá trình liên tục thì đổi mới thường là hiện tượng tức thời.
Thực hiện Kaizen cũng ít tốn kém hơn đổi mới bởi nó nâng cao chất lượng công việc, ghi nhận sự tham gia của của nhà quản lý cũng như mọi nhân viên, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và giảm chi phí hoạt động. Đây chính là một điểm hấp dẫn của Kaizen vì nó không đòi hỏi các kỹ thuật phức tạp hay công nghệ mới. Để thực hiện Kaizen, bạn chỉ cần các kỹ thuật thông thường, đơn giản như 7 công cụ kiểm soát chất lượng (biểu đồ Pareto, nhân quả, tổ chức, kiểm soát, phân tán, các đồ thị và phiếu kiểm tra).

2. Lợi ích của hệ thống Kaizen

Vào những năm 1980 và đầu những năm 1990, rất nhiều các công ty lớn của Nhật thiết lập cơ sở sản xuất tại miền Bắc nước Mỹ. Khi họ giành được các công ty lớn ở Bắc Mỹ (như Bridgestone tiếp quản Firestone, Sony tiếp quản hãng phim Columbia Pictures) cũng là lúc nhà lãnh đạo các tập đoàn của Nhật truyền bá phương thức quản lý của họ đối với các công ty con và các công ty nước ngoài khác.

Chính thời điểm này, Kaizen cũng được biết đến như chìa khóa thành công của các doanh nghiệp Nhật Bản trong chiến lược cạnh tranh toàn cầu. Hiện tại có rất nhiều công ty trên thế giới đang cố gắng áp dụng hiệu quả triết lý CẢI TIẾN LIÊN TỤC của người Nhật nhằm đối phó với những thách thức về môi trường cạnh tranh khắc nghiệt, khó khăn kinh tế tăng lên, sự phát triển liên tục của công nghệ và các thay đổi về văn hóa – xã hội.
Toyota là công ty dẫn đầu trong việc áp dụng Kaizen trong chiến lược kinh doanh. Toyota có khoảng 9 nhà máy tại Bắc Mỹ và cuối năm 2007 hãng tiếp tục mở một nhà máy mới ở Mississipi, sản xuất xe ô tô với đội ngũ công nhân người Mỹ có mức lương ngang bằng hoặc hơn so với các công ty sản xuất xe ô tô khác. Trong số đó, 75% các xe ô tô được lắp ráp tại Bắc Mỹ có bộ phận và nguyên liệu được sản xuất tại đây. Chỉ có khoảng 25% xe ô tô là nhập từ Nhật và các nơi khác. Vậy mà, Toyota vẫn kiếm hơn 14 tỉ USD vào năm 2006 trong khi các nhà sản xuất xe ô tô của Mỹ phải chuyển tới Trung Quốc và Ấn Độ để tiết kiệm chi phí?
Bí quyết của Toyota ở đây chính là Kaizen – giảm lãng phí trong các khu vực như hàng hóa tồn kho, thời gian chờ đợi, vận chuyển, đi lại của người công nhân, kỹ năng của người lao động và sản xuất dư thừa. Với hệ thống Kaizen, mỗi công nhân trong nhà máy luôn thực hiện công việc một cách dễ dàng, đơn giản. Bằng việc dùng giỏ nhựa để phân loại các bộ phận phụ tùng theo mẫu xe, người công nhân không mất thời gian phân loại theo đặc tính.
Bằng cách tự chế tạo xe chuyên chở trong nội bộ nhà máy từ các bộ phận có sẵn trên dây chuyền và lắp thêm động cơ, Toyota có thể tiết kiệm gần 3.000 USD cho chi phí mua sắm xe chở hàng. Việc áp dụng Kaizen giúp cung cấp nguyên liệu hợp lý tùy thuộc vào khối lượng được tiêu thụ, giảm thiểu công việc  trong quy trình và  sự sắp xếp hàng hóa tồn kho. Do vậy, công nhân chỉ phải dự trữ một khối lượng nhỏ cho mỗi sản phẩm và thường xuyên bổ sung chúng dựa trên những gì mà khách hàng thật sự lấy đi. Điều này giảm thao tác thừa của công nhân, máy móc thiết bị giúp tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng công việc, giảm giá thành sản phẩm.

Kaizen thu hút và phát triển những người có khả năng sáng tạo và duy trì hiệu quả công việc cao. Bởi bản chất của nó, Kaizen lôi cuốn con người từ sự nhiệt tâm – những người không ngừng tạo ra sự khác biệt, hoàn thiện mọi thứ. Những con người này tập trung vào công việc của họ, giảm thiểu lãng phí và thỏa mãn với cơ hội cải thiện những gì mà họ có ưu thế. Việc họ tiếp tục thực hiện triết lý này sẽ thu hút đông đảo mọi người tham gia, tạo thành một phong trào trong công ty. Những kết quả thiết thực của việc áp dụng Kaizen tạo ra môi trường làm việc thoải mái, thúc đẩy họ không ngừng đưa ra nhiều sáng kiến cải tiến làm lợi cho công ty.
Đề xuất ý tưởng cải tiến là một quá trình tự học hỏi và nâng cao kỹ năng làm việc của nhân viên, giúp họ nâng cao ý thức và phát triển bản thân cũng như tập thể.Bởi vậy, nhân viên cảm thấy hứng thú hơn trong công việc, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau. Tất cả những điều đó, càng tạo thêm động lực thúc đẩy cá nhân có các ý tưởng cải tiến, tạo tinh thần làm việc tập thể, đoàn kết và tạo ý thức luôn hướng tới giảm thiểu các lãng phí.
Nhà quản lý cũng như mọi nhân viên cần hiểu, tin vào triết lý Kaizen và cố gắng thực hiện một cách liên tục. Có như vậy, toàn thể nhân viên và lãnh đạo mới thấm nhuần triết lý CẢI TIẾN LIÊN TỤC trong suy nghĩ, hành động. Khi một triết lý được áp dụng hiệu quả thì nó sẽ hình thành nên một nét văn hóa trong công ty. Tổng biên tập tạp chí AutoWeek nhận định: “Tiết kiệm không chỉ văn hóa của riêng Toyota. Nó là văn hóa mà người Nhật đem tới nước Mỹ, hay chí ít cũng là trong các nhà máy sản xuất của họ”.
Tại Toyota, Kaizen đã giúp hình thành nên văn hóa công ty: văn hóa ứng xử giữa lãnh đạo với nhân viên, giữa các nhân viên với nhau; sự tiết kiệm; sự bảo vệ thương hiệu của công ty; sự cố gắng hết mình cho công việc; tinh thần học hỏi lẫn nhau. Tinh thần của Kaizen cũng được thể hiện qua hai triết lý quan trọng của Toyota là “Developing People First” and “Respect for People”. Giám đốc bộ phận lắp ráp John Robinson cho biết: “Ở Toyota, bất cứ vấn đề nào cũng được nhìn nhận một cách nghiêm túc và giải quyết triệt để. Đó là lý do vì sao không cứ gì quản lý, ngay cả một công nhân “quèn” cũng có thể cho dừng toàn bộ dây chuyền nếu phát hiện ra sai sót”.
Khi nhận thức được tầm quan trọng của Kaizen, nhà quản lý hay nhân viên đều có thể đồng tâm để xây dựng văn hóa công ty theo chiến lược Kaizen:
(1) Không để một ngày trôi qua mà không có cải tiến được đề xuất và thực hiện trong công ty.
(2) Kaizen áp dụng trong chiến lược định hướng khách hàng, đồng thời đảm bảo mọi hoạt động quản lý và tăng sự hài lòng cho khách hàng.
(3) Điều quan trọng hàng đầu là chất lượng, chứ không phải là lợi nhuận, một doanh nghiệp sẽ trở nên thịnh vượng khi và chỉ khi khách hàng mua sản phẩm và dịch vụ mà họ hài lòng.
(4) Thừa nhận rằng mọi công ty đều có điểm thiếu sót nên cần xây dựng văn hóa công ty để mọi nhân viên tự nhận thức một cách thoải mái những thiếu sót, để sẵn sàng đưa ra ý tưởng cải tiến.
(5) Giải quyết công việc theo hướng phối hợp và theo hệ thống chức năng chéo.
(6) Nhấn mạnh vào quá trình và thiết lập phương pháp tư duy định hướng vào cải tiến các quá trình.
(7) Thiết lập một hệ thống quản lý, khuyến khích và đền đáp nỗ lực đóng góp ý tưởng cải tiến của tất cả mọi người.

Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017

Về 10 điều mà Fisher cho rằng nhà đầu tư nên tránh (theo Fisher)

 


1.      Không nên mua cổ phiếu ở các công ty đang trong quá trình hình thành và phát triển

Đứng trên quan điểm đầu tư, Fisher cho rằng điểm khác biệt cơ bản giữa những công ty mới thành lập và những công ty đã hoạt động ổn định đó là:

Ở những công ty đã ổn định, mọi chức năng chính của hoạt động kinh doanh đều được thiết lập và vận hành trơn tru. NĐT có thể quan sát dây chuyền sản xuất, doanh thu, chi phí, đội ngũ quản lý và tất cả các khía cạnh khác của quá trình hoạt động…

Ở những công ty đang trong quá trình hình thành và phát triển thì tất cả những việc mà NĐT có thể làm là lên kế hoạch và dự đoán những khó khăn và lợi thế của công ty. Đây là vấn đề phức tạp hơn nhiều so với những việc cần làm ở những công ty đã hoạt động trong một thời gian dài. Nguy cơ mắc sai lầm có thể xuất hiện trong quá trình đưa ra kết luận. Thông thường, những công ty non trẻ có một vài cá nhân có tài lãnh đạo trong một giai đoạn nào đó của chu trình kinh doanh, tuy nhiên họ lại thiếu kiến thức trong nhiều lĩnh vực quan trọng không kém.
Vì những lý do trên, tác giả cho rằng mặc dù công ty đang phát triển đó có vẻ ngoài hấp dẫn thế nào, vấn đề tài chính của nó cũng nên để các chuyên gia thẩm định bởi họ có đội ngũ quản lý đủ trình độ để sửa chữa những khuyết điểm mà các công ty non trẻ chưa để ý đến.
Thực tế chứng minh: Có tới 95% start-ups phá sản trong 5 năm đầu tiên!?

2. Không nên bỏ qua những cổ phiếu chưa được niêm yết (những cổ phiếu giao dịch trên OTC hoặc Upcom)


Tính hấp dẫn của cổ phiếu chưa được niêm yết khác với cổ phiếu niêm yết là tính thanh khoản (khả năng mua — bán). Tác giả cho rằng nếu xác định được một doanh nghiệp tốt thì không nên e ngại chỉ vì cổ phiếu của nó chưa được giao dịch trên các sàn.
Lịch sử chứng minh những cổ phiếu có tốc độ tăng phi mã trên Upcom như SDI, MSR, VEF… hoặc
cổ phiếu ô tô Trường Hải, MSH trên OTC…

3. Không nên mua cổ phiếu chỉ bởi bạn thích các báo cáo hàng năm của nó

Thông thường, báo cáo thường niên thể hiện tầm nhìn và hành động của ban điều hành công ty trong năm sắp tới. Tuy nhiên, tác giả cho rằng rất nhiều doanh nghiệp, BGĐ không tự tay viết bản báo cáo này, mà nhiệm vụ này được giao cho một bộ phận chuyên trách mang tính hình thức để gửi cho cổ đông. Nếu bạn để cho chữ nghĩa và giọng điệu của bản BCTN ảnh hưởng đến quyết định mua cổ phiếu của mình thì nó cũng giống như việc bạn mua một sản phẩm chỉ bởi hình ảnh đầy lôi cuốn trên bảng quảng cáo.

NĐT nên xem xét thấu đáu và cân nhắc về những vấn đề thực sự trong kinh doanh.

4. Không nên lo lắng khi chỉ số P/E quá cao

Fisher cho rằng chỉ số P/E quá cao có thể là một dấu hiệu cơ bản chỉ ra rằng mức tăng cao hơn của khoản thu nhập (E) trong tương lai phần lớn đã được phản ánh ở mức giá hiện tại. Điều thực sự quan trọng ở đây là phải nắm rõ tình trạng của công ty, đặc biệt là phải xét đến các dự định của nó trong những năm sắp tới. Nếu như đợt tăng lợi nhuận trong những năm đó chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn và công ty không có nguồn tăng lợi nhuận tiếp theo, khi mà nguồn lực hiện tại đã tận dụng hết, thì vấn đề lại hoàn toàn khác.
Kinh nghiệm cho thấy, duy trì ổn định lợi nhuận tằng dần qua các năm quan trọng hơn nhiều sự đột biến “bất thường”.

5. Không nên quan trọng hóa những bước giá nhỏ như 1/8 hay 1/4


Tác giả cho rằng khi đã tìm được cổ phiếu tốt thì không nên chỉ vì những bước giá quá nhỏ mà không mua chúng. Những giá phải trả thêm thật sự là không quan trọng so với mức lợi nhuận mà bạn sẽ bỏ lỡ nếu không mua cổ phiếu đó. Nếu cổ phiếu không thuộc loại có tiềm năng tăng trưởng dài hạn thì Fisher khuyên rằng ngay từ đầu NĐT không nên quyết định mua.

6. Không nên đa dạng hóa quá mức danh mục


NĐT đề cao sự đa dạng hóa với nỗi lo sẽ đặt quá nhiều trứng vào một giỏ và rồi khiến họ mua quá ít cổ phần của những công ty mà họ hiểu rõ và quá nhiều cổ phần của những công ty mà họ chẳng có chút hiểu biết nào. Dường như NĐT chẳng bao giờ nhận thức được rằng mua cổ phần của một công ty mà không có đủ kiến thức về nó còn nguy hiểm hơn là không đa dạng hóa. Đó chính là bất lợi của việc đặt trứng vào quá nhiều giỏ để rồi cuối cùng lại rơi vào chiếc giỏ không mấy hấp dẫn và cũng không thể nào canh chừng được tất cả các giỏ đựng trứng đó.

Kinh nghiệm cho thấy, thông thường một danh sách dài các chứng khoán trong danh mục không phải là một dấu hiệu của NĐT thông minh, mà là dấu hiệu của người không tin vào bản thân. NĐT có đầu óc thực tế thường nhận ra rằng anh ta nên tìm kiếm các khoản đầu tư có giá trị thay vì lựa chọn quá nhiều (giữ danh mục trong khoảng 5–10 mã là vừa phải với số vốn dưới 20 tỷ).

7. Đừng e ngại mua vì lo sợ chiến tranh

Chiến tranh khiến các chính phủ phải chi tiêu nhiều hơn mức có thể thu được từ thuế khi cuộc chiến đang tiếp diễn. Hệ quả là lượng tiền tăng gấp bội nên đồng tiền bị mất giá (lạm phát) dẫn đến giá cổ phiếu rẻ hơn giá trị thực. Fisher cho rằng đây là thời điểm ko nên sở hữu quá nhiều tiền mặt.

8. Không nên sa vào những vấn đề không thực sự quan trọng


Có một thực tế là rất nhiều NĐT thường đặt sự chú ý quá mức vào những con số thống kê tài chính, các bản báo cáo tài chính bề ngoài. Điều gì tạo ra mức giá bán của cổ phiếu? Chính là sự định giá chung tại thời điểm cổ phiếu bán ra của tất cả những người liên quan nghĩ rằng mức giá đó thể hiện giá trị chuẩn xác của cổ phiếu. Fisher cho rằng việc biết được những gì có thể sẽ xảy ra trong vài năm tới mới thật sự quan trọng.

9. Đừng quên xem xét thời điểm cũng như giá khi mua một cổ phiếu tăng trưởng thực sự


10. Đừng chạy theo đám đông


Những xu hướng đầu tư nhất thời và cách hiểu sai lệch về các sự kiện thực tế có thể kéo dài trong vài tháng hoặc vài năm. Tuy nhiên, xét trong dài hạn thì chính thực tiễn sẽ không chỉ xóa bỏ những xu hướng đó mà thường đến một thời điểm còn giúp những cổ phiếu bị ảnh hưởng này tiến xa theo hướng hoàn toàn ngược lại. Khả năng nhìn thấu quan điểm của số đông để tìm ra sự thật đằng sau chúng là một tố chất sẽ mang lại phần thưởng giá trị trong lĩnh vực đầu tư cổ phiếu. Không dễ dàng để thay đổi quan điểm chung của những người có sức ảnh hưởng lớn, tuy nhiên có một nhân tố mà tất cả chúng ta có thể nhận ra và giúp ngăn chặn chúng ta chạy theo số đông. Đó là nhận thức rằng giới tài chính luôn không bắt kịp những điều kiện thay đổi căn bản trừ khi một sự kiện gây tiếng vang hay nổi bật liên quan đến thay đổi đó mà mọi người đều biết.

Kết luận

Trước khi mua cổ phiếu NĐT cần trả lời câu hỏi “Điều gì khiến công ty trở nên khác biệt so với đối thủ?” Như Warren Buffet đã từng nói “Tôi đầu tư vào doanh nghiệp chứ không đầu tư vào cổ phiếu. Giá cả là cái bạn trả còn giá trị là thứ bạn nhận được”. Việc tránh những sai lầm mà Fisher chia sẻ trong cuốn sách này có thể giúp chúng ta tiến gần hơn tới thành công trong lĩnh vực đầu tư đầy thách thức nhưng rất thú vị và trí tuệ này.


Nguồn medium.com







15 tiêu chí trong cuốn Cổ phiếu thường lợi nhuận phi thường của Philip A. Fisher

Philip A. Fisher là một trong những nhà đầu tư có ảnh hưởng lớn nhất mọi thời đại. Triết lý và những bí quyết đầu tư thành công trong suốt sự nghiệp của Fisher đã được ông đúc rút trong cuốn sách Cổ phiếu thường, lợi nhuận phi thường này.
Kết quả hình ảnh cho tóm tắt sách cổ phiếu thường lợi nhuận phi thường
Để tải sách các bạn ấn vào link nàyCác bạn vui lòng mua sách gốc để ủng hộ tác giả.
Còn nếu bạn không có thời gian để đọc hết cuốn sách thì bạn có thể đọc bản tóm tắt sau của mình. Mình sẽ cố gắng tóm tắt và diễn giải một cách dễ hiểu cho các bạn mới.
Tóm tắt:
Phần I: Cổ phiếu thường, lợi nhuận phi thường.
Trong phần này tác giả sẽ tổng kết 15 tiêu chí để mua chứng khoán mà các nhà đầu tư cần lưu ý khi tham gia thị trường chứng khoán
1.Tiêu chí 1: Liệu công ty có những sản phẩm và dịch vụ  có đủ tiềm năng thị trường đủ lớn để tăng doanh thu ít nhất trong vài năm tới không ? ( vấn đề về tiềm năng tăng trưởng )
Hàm ý rằng những người sớm đầu cơ vào cổ phiếu này trước khi đường doanh thu tăng trưởng vượt ngưỡng, đã thu được một khoản lợi nhuận kếch sù. Sau đó khi đường doanh thu thăng bằng trở lại thì những cổ phiếu này không còn hấp dẫn như trước .
Việc đánh giá chính xác đường doanh thu dài hạn là cực kỳ quan trọng đối với các nhà đầu tư. Một sự đánh giá thiển cận, thiếu thận trọng có thể dẫn đến những kết luận sai lầm.
Đây là tiêu chí đầu tiên mà nhà đầu tư nào muốn thu lợi nhuận tối đa nên xem xét.
2. Tiêu chí 2: Bộ máy quản lý của công ty có quyết tâm tiếp tục phát triển các dòng sản phẩm hay những quy trình sản xuất, nhằm gia tăng hơn nữa tổng doanh thu trong khi tiềm năng tăng trưởng của các dòng sản phẩm hấp dẫn hiện tại đã bị khai thác quá nhiều ? (Đây chính là vấn đề về thái độ quản lý).
Những công ty có triển vọng tăng trưởng trong một vài năm tiếp theo do nhu cầu mới về các dòng sản phẩm hiện tại, nhưng không có chính sách hay kế hoạch để tiếp tục phát triển thường chỉ mang lại khoản lợi nhuận một lần.
Và thường nhà đầu tư thu được những lợi nhuận cao nhất từ những công ty coi trọng việc nghiên cứu và cải tiến công nghệ nhằm triển khai những dòng sản phẩm mới  có liên quan đến phạm vi hoạt động của công ty.
3. Tiêu chí 3: Những nỗ lực nghiên cứu và phát triển của công ty sẽ ảnh hưởng như thế nào đến quy mô của nó ?  
Bạn có thể lấy số liệu các khoản đầu tư hàng năm của công ty dành cho việc nghiên cứu phát triển từ các báo cáo tổng doanh thu bán hàng hàng năm và so sánh với mức trung bình trong ngành. Từ đó đưa ra  kết luận về tầm quan trọng của nỗ lực nghiên cứu của công ty đối với khả năng cạnh tranh và lượng tiền dành cho nghiên cứu trên mỗi cổ phiếu.
4. Tiêu  chí 4: Cách thức tổ chức bán hàng của công ty đã hiệu quả chưa?   
Hãy cố tìm ra một công ty không có sự phân phối chồng chéo và thường xuyên cải thiện công tác tổ chức marketing bán hàng. Tác giả tin rằng những công ty thành công nhất luôn tìm cách nâng cao khả năng bán hàng của nhân viên. Chính điều đó khiến công ty có được sự tăng trưởng bền vững.

5. Tiêu chí 5: Biên lợi nhuận của công ty có cao không ?

Biên lợi nhuận là gì ?

Doanh thu chỉ có giá trị khi làm tăng lợi nhuận. Doanh thu tăng không có nghĩa là lợi nhuận sẽ tăng lên tương ứng

Nghiên cứu biên lợi nhuận của công ty tức là xác định lợi nhuận hoạt động có được từ doanh thu tính theo đô-la. Rõ ràng có sự khác biệt  lớn giữa các công ty khác nhau ngay trong cùng một ngành.

Trừ một số trường hợp ngoại lệ, thì mọi nhà đầu tư mong đợi thu lợi nhuận dài hạn cao nhất nên tránh những công ty có biên lợi nhuận thấp hoặc bằng không.

6. Tiêu chí 6. Công ty đang làm gì để duy trì hoặc cải thiện biên lợi nhuận.

Thành công của việc đầu tư vào cổ phiếu của một doanh nghiệp nào đó không phụ thuộc vào những thông tin nói chung về doanh nghiệp tại thời điểm mua mà dựa vào những gì sẽ xảy ra sau khi cổ phiếu được mua. Do đó, biên lợi nhuận trong tương lai mới đóng vai trò quan trọng đối với nhà đầu tư.

7. Tiêu chí 7. Mối quan hệ giữa bộ máy lãnh đạo và người lao động trong công ty có tốt không ( là vấn đề quan trọng) ?

Khi người lao động được đãi ngộ tốt, thì bộ máy lãnh đạo sẽ tăng năng suất lao động thuận lợi. Người lao động trung thành sẽ làm giảm một khoản đáng kể chi phí đào tạo mới. Do đó, những công ty có sự biến động nhân sự bất thường gây ra khoản chi phí không cần thiết mà nhẽ ra đã có được nhờ quản lý tốt.

Nhà đầu tư nên xem xét một vài yếu tố và sau đó rút ra cái nhìn tổng thể như :

– Quan tâm tới danh sách ứng viên chờ đợi muốn làm việc cho một số công ty là đối thủ của  các công ty khác trong cùng lĩnh vực.

– Các công ty có mối quan hệ nhân sự tốt thường là những công ty đã nỗ lực hết mình để nhanh chóng giải quyết các lời phàn nàn.

– Nhà đầu tư rất cần để ý đến tỷ lệ tiền lương trả cho nhân viên. Mua phải cổ phiếu của một công ty mà phần lớn thu nhập kiếm được là nhờ trả tiền công lao động thấp dưới mức trung bình sẽ gặp phải những rắc rối nghiêm trọng.

– Cần nhạy cảm về thái độ hòa nhã của các quản lý cấp cao đối với người lao động bình thường.

8. Tiêu chí 8. Đội ngũ lãnh đạo công ty có đoàn kết, đồng thuận cao không ( là vấn đề sống còn) ?

Đội ngũ lãnh đạo công ty là những con người mà các nhận định, tài năng và kỹ năng làm việc nhóm của họ quyết định đến thành bại của bất kỳ dự án kinh doanh nào

Công ty mang lại những cơ hội đầu tư lớn nhất là một công ty có một môi trường điều hành hết sức hiệu quả. Điều này có nghĩa là từ cấp thấp nhất cho đến cao đều cảm thấy cơ hội thăng tiến của họ là dựa trên khả năng chứ không phải tư tưởng bè phái.

Mô hình kiểu gia đình trị không tạo ra được sự phát triển cho những người có khả năng.

Một môi trường được điều hành tốt đóng vai trò cốt lõi cho những kế hoạch đầu tư lớn.

9. Tiêu chí 9. Công ty có thật sự có chiều sâu quản lý không ?

Quan trọng đó là mỗi cấp điều hành phải được giao thực quyền để đảm trách những nhiệm vụ cụ thể theo cách mà mỗi cá nhân đó cho là hiệu quả.

Những công ty mà ban lãnh đạo can thiệp và chỉ cố gắng giải quyết các vấn đề hàng ngày, hiếm khi trở thành kiểu công ty có sức thu hút nhà đầu tư. Cắt giảm quyền hạn của các khâu quản lý khác nhau sẽ làm giảm uy tín của công ty.

10. Tiêu chí 10. Công ty có kiểm soát tốt hệ thống kế toán và phân tích chi phí không ?

Không có một công ty nào liên tục thành công vang dội trong thời gian dài nếu không thể phân tích mọi chi phí của mình một cách chi tiết, chính xác và đầy đủ, để có thể đưa ra chi phí của từng bước nhỏ trong mỗi hoạt động của nó.

11. Tiêu chí 11. Công ty có chú ý đến những khía cạnh kinh doanh khá khác biệt với tính chất của ngành – những khía cạnh mang lại cho nhà đầu tư đầu mối quan trọng về mức độ nổi trội của công ty so với đối thủ canh tranh không ?

Tiêu chí này có thể rất quan trọng đối với ngành này nhưng lại có rất ít hoạch không có vai trò gì trong ngành khác.

Ví dụ như bằng phát minh sáng chế đem lại sự khác biệt giữ công ty này và công ty khác. Có bằng sáng chế là một ưu thế giúp công ty hạn chế chi tiết nhỏ lẻ phát sinh từ các hoạt động cạnh tranh gay gắt, đem lại lợi thế cạnh tranh giúp tăng biên lợi nhuận của các dòng sản phẩm của công ty.

12. Tiêu chí 12. Công ty có triển vọng lợi nhuận ngắn hạn và dài hạn như thế nào ?

Những nhà đầu tư mong muốn kết quả lớn nhất nên ủng hộ các công ty có triển vọng lợi nhuận dài hạn.

13. Tiêu chí 13. Trong tương lai, nếu công ty có dự tính tăng trưởng dựa trên việc tăng vốn cổ phần bằng cách phát hành thêm cổ phiếu, thì lợi ích của các cổ đông hiện tại có giảm sút không ?

  14. Tiêu chí 14. Bộ máy quản lý công ty có luôn minh bạch với các nhà đầu tư về tình hình công ty khi nó hoạt động tốt nhưng lại che giấu khi có vấn đề ?

Cách hành xử này gần như là việc  làm rất tự nhiên của các doanh nghiệp.

Vì một vài lý do mà ban quản lý giữ im lặng về những điều tồi tệ . Chính điều này sẽ gây ra tâm lý hoang mang cho nhà đầu tư. Cách hành xử này cho thấy bộ máy quản lý không ý thức đầy đủ về trách nhiệm với cổ đông. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào , nhà đầu tư cũng sẽ loại trừ việc đầu tư vào những công ty đang cố gắng che giấu những thông tin không tốt.

15. Tiêu chí 15. Bộ máy quản lý công ty có liêm khiết không ?

Nếu nghi ngờ về bộ máy quản lý thì dù công ty đó có thứ hạng cao, nhà đầu tư cũng không nên đầu tư vào.

Kết luận: Đọc xong 15 tiêu chí trên, bạn sẽ có cảm giác một số tiêu chí trong cuốn sách “cổ phiếu thường lợi nhuận phi thường” na ná giống nhau nhưng thực ra chúng hoàn toàn khác nhau. Nhìn chung, trên thị trường chứng khoán Việt Nam ta khó có thể xác nhận được hết các tiêu chí trên, tuy nhiên theo quan điểm của mình các bạn chỉ cần quan tâm tới các tiêu chí như khả năng tăng trưởng, triển vọng tương lai và tiêu chí về ban lãnh đạo. Những tiêu chí đó các bạn có thể đọc và tìm hiểu trên báo mạng, đặc biệt với các kỳ họp đại hội đồng cổ đông thường niên các bạn có thể tham gia để trực tiếp tìm hiểu về doanh nghiệp mình định đầu tư.

Theo chungkhoaneasy.com

Thứ Sáu, 16 tháng 6, 2017

Tăng trưởng GDP bao nhiêu?



Trong 10 năm qua, kinh tế trong nước tăng trưởng chủ yếu chỉ dựa trên gia công điện thoại, may mặc, xuất khẩu dầu mỏ, phát triển hạ tầng, xây dựng. Nghĩa là chủ yếu dựa trên làm thuê và bán tài nguyên. Hậu quả là vài năm gần đây nợ công tăng cao, môi trường ô nhiễm và không thể duy trì tăng trưởng GDP như các năm trước.

Điều đơn giản là vì giá dầu và giá thuê nhân công chỉ tăng trưởng ở một mức độ nào đó mà không thể tăng hơn nữa. Giá trị gia tăng trên sản phẩm không tăng. Bẫy thu nhập trung bình là từ đây mà ra. Ngoài ra, việc xây dựng cơ sở hạ tầng dựa trên tiền vay nợ nên chỉ gánh thêm nợ mà thôi. Còn các công trình xây dựng xây xong để đó có hiệu quả hay không và thu lãi, vốn trong bao nhiêu năm nữa thì còn phải tính. Mục tiêu tăng trưởng GDP theo cách trên đây là hại nhiều hơn lợi là thấy rõ.

Vậy mới có chuyện cuối năm nay, quốc hội sẽ xem xét để thông qua việc Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc trở thành SEZ - đặc khu kinh tế để thúc đẩy đất nước phát triển. Nói gọn lại, nước ta có tiềm năng du lịch rất lớn nhờ lợi thế bãi biển trải dài. Việc thúc đẩy tăng trưởng du lịch và dịch vụ là cơ hội đưa nước ta phát triển kinh tế trong 10  năm tới.

Ngoài ra, việc phát triển các tiềm năng khác trong chuỗi giá trị gồm nghiên cứu phát triển, thiết kế, sản xuất cũng là điều mà chúng ta cần suy nghĩ như là giải pháp tăng trưởng GDP thực chất hơn.


Thứ Ba, 13 tháng 6, 2017

Cổ phần hóa

Việc cổ phần hóa Vietnam Airline trong là cần thiết đồng thời cũng là xu thể phát triển tất yếu của công ty này. Lợi nhuận ròng của VNA trong năm 2016 thấp hơn hãng hàng không VietjetAir. Trong khi số lượng nhân viên của VNA lại nhiều hơn VietjetAir.

Hang khong Viet Nam chia lai bau troi
Nguồn: NCDT

Do đó, cổ phần hóa VNA sẽ thúc đẩy công ty này cải tổ bộ máy để hoạt động hiệu quả hơn. Đồng thời, phát triển điểm mạnh của VNA - chất lượng dịch vụ được nâng cao.

Thứ Sáu, 2 tháng 6, 2017

Chuỗi giá trị

Tối qua đọc báo mới nhận ra là bấy lâu nay kinh tế VN tăng trưởng chỉ dựa trên bán tài nguyên và sức lao động (gia công sản phẩm). Nên hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cho sản phẩm rất thấp. Đó là lý do tại sao tốc độ tăng trưởng sẽ không thể tăng được nữa khi mà tài nguyên cạn kiệt và các nước khác như Bangladesh giảm giá nhân công.




Điều đó cũng có nghĩa là các ngành như bất động sản, khai khoáng, gia công sẽ không đóng góp nhiều cho tăng trường kinh tế. Các ngành đóng góp nhiều tăng trưởng cao, ổn định và lâu dài vẫn là sản xuất, hậu cần, dịch vụ và nghiên cứu phát triển. Vì các ngành này tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Và làm gia tăng giá trị cho sản phẩm.