Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2019

Sách hay - Ảo tưởng phổ biến phi thường và sự điên rồ của đám đông của Charles Mackay


Xuất bản lần đầu năm 1841, Ảo tưởng phổ biến phi thường và sự điên rồ của đám đông thường được trích dẫn là cuốn sách hay nhất từng được viết về tâm lý thị trường. Phiên bản Nhà Harriman này bao gồm tài khoản của Charles Mackay về ba nhân vật tài chính khét tiếng - Đề án Canteripi của John Law, Bong bóng Biển Nam và Tulipomania. Giữa ba người họ, những tập phim lịch sử này xác nhận rằng lòng tham và sự sợ hãi luôn là động lực của thị trường tài chính, và hơn nữa, việc hợp lý và thông minh là không thể chống lại sự quyến rũ mê hoặc của cơn sốt phổ biến với cơn gió đằng sau nó. Khi viết lịch sử của những thiên tài tài chính vĩ đại,

Charles Mackay đã chứng tỏ mình là một biên niên sử bậc thầy về lịch sử xã hội cũng như tài chính. Được ban phước với một dàn nhân vật bao trùm tất cả các tật xấu, tặng một đoạn sự kiện chắc chắn sẽ hướng đến thảm họa, và với lợi ích của nhận thức muộn màng, ông đã tạo ra một bản ghi chép ngay lập tức là một phim kinh dị hấp dẫn và hấp thụ tài liệu lịch sử. Một thế kỷ rưỡi sau, nó sôi động và lộng lẫy như ngày nó được viết. 

Đối với các nhà đầu tư thời hiện đại, vẫn quay cuồng với vụ tai nạn dotcom, đạo đức của các manias phổ biến hiếm khi cần đánh vần. Khi bong bóng thị trường chứng khoán tiếp theo xuất hiện, chắc chắn, bạn nên nhớ lại hoàn cảnh của một số điều không may trên các trang này và tránh bị kéo lê dưới bánh xe của băng đảng chăm sóc.

Link trò chơi trực quan để hiểu hơn ý của tác giả sách "Ảo tưởng phổ biến phi thường và sự điên rồ của đám đông"

Mở link ở đây




Theo GoodReads

Thứ Hai, 26 tháng 2, 2018

So sánh tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam với các nước trong khu vực



Giai đoạn phát triển thần kì của Nhật Bản từ năm 1952 đến 1973.

Kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng gần như liên tục từ mức vài tỷ USD đến mức ngàn tỷ USD trong chưa đầy một nửa thế kỷ, từ năm 1960 đến 2007 (nguồn wikipedia).

So sánh GDP-PPP giữa Việt Nam và các nước công nghiệp mới qua các năm 1980-2014 (nguồn wikipedia)

Tăng trưởng GDP thực giai đoạn 1980-2010

Chủ Nhật, 29 tháng 10, 2017

Xây dựng thương hiệu, sự trung thực và lĩnh vực cốt lõi trong kinh doanh

Mấy hôm nay thấy báo chí đưa tin về nhãn hiệu Khaisilk có thể không trung thực với khách hàng khi bán sản phẩm của China mà lại dán nhãn Made in Vietnam. Khaisilk đã đóng cửa hàng, còn khách hàng thì bất bình và yêu cầu trả lại hàng hóa.

Câu chuyện của Khaisilk là bài học không bao giờ cũ cho việc phát triển bất kỳ một thương hiệu hay một doanh nghiệp nào. Đó là niềm tin và uy tín của một thương hiệu được xây dựng và phát triển cần nhiều thời gian nhưng để nó sụp đổ thì rất dễ dàng. Khaisilk có thể bán sản phẩm của China và đây là việc không có gì sai trái. Và khách hàng không thể bất bình vì việc Khaisilk bán hàng xuất xứ China. Tuy nhiên, vấn đề sẽ nảy sinh khi sản phẩm China đó được dán nhãn sản xuất tại Vietnam. Và việc bán hàng giả, hay lừa dối khách hàng là điều không chấp nhận được trong bán hàng.
Kết quả hình ảnh cho giá trị cuộc sống

Nói rộng hơn, để phát triển một thương hiệu, một sản phẩm hay một doanh nghiệp được bền vững và lâu dài thì việc tôn trọng khách hàng, vì cuộc sống của khách hàng là điều phải làm. Và sự tồn tại của doanh nghiệp có được bền vững hay không, được lâu dài hay không là phụ thuộc vào khách hàng. Đó là điều mà nền kinh tế Vietnam muốn phát triển hơn nữa cần phải làm-tuyên dương, cổ vũ cho những sản phẩm vì cuộc sống tốt đẹp của khách hàng.

Bài học thứ hai về phát triển doanh nghiệp có thể thấy được là Khaisilk đã đi xa khỏi phần thế mạnh-lĩnh vực kinh doanh cốt lõi của mình trong hành trình kinh doanh. Đó là kinh doanh các sản phẩm về lụa. Khaisilk đã tập trung vào bất động sản, du lịch và bán...phở thay vì duy trì và phát triển sản phẩm về lụa. Điều này không có gì là sai cả. Tuy nhiên, nó lại dẫn đến sự sụp đổ thương hiệu Khaisilk và các lĩnh vực khác như bất động sản, du lịch không thể cứu vãn được là điều đáng để suy ngẫm.

Thứ Sáu, 16 tháng 6, 2017

Tăng trưởng GDP bao nhiêu?



Trong 10 năm qua, kinh tế trong nước tăng trưởng chủ yếu chỉ dựa trên gia công điện thoại, may mặc, xuất khẩu dầu mỏ, phát triển hạ tầng, xây dựng. Nghĩa là chủ yếu dựa trên làm thuê và bán tài nguyên. Hậu quả là vài năm gần đây nợ công tăng cao, môi trường ô nhiễm và không thể duy trì tăng trưởng GDP như các năm trước.

Điều đơn giản là vì giá dầu và giá thuê nhân công chỉ tăng trưởng ở một mức độ nào đó mà không thể tăng hơn nữa. Giá trị gia tăng trên sản phẩm không tăng. Bẫy thu nhập trung bình là từ đây mà ra. Ngoài ra, việc xây dựng cơ sở hạ tầng dựa trên tiền vay nợ nên chỉ gánh thêm nợ mà thôi. Còn các công trình xây dựng xây xong để đó có hiệu quả hay không và thu lãi, vốn trong bao nhiêu năm nữa thì còn phải tính. Mục tiêu tăng trưởng GDP theo cách trên đây là hại nhiều hơn lợi là thấy rõ.

Vậy mới có chuyện cuối năm nay, quốc hội sẽ xem xét để thông qua việc Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc trở thành SEZ - đặc khu kinh tế để thúc đẩy đất nước phát triển. Nói gọn lại, nước ta có tiềm năng du lịch rất lớn nhờ lợi thế bãi biển trải dài. Việc thúc đẩy tăng trưởng du lịch và dịch vụ là cơ hội đưa nước ta phát triển kinh tế trong 10  năm tới.

Ngoài ra, việc phát triển các tiềm năng khác trong chuỗi giá trị gồm nghiên cứu phát triển, thiết kế, sản xuất cũng là điều mà chúng ta cần suy nghĩ như là giải pháp tăng trưởng GDP thực chất hơn.


Thứ Sáu, 2 tháng 6, 2017

Chuỗi giá trị

Tối qua đọc báo mới nhận ra là bấy lâu nay kinh tế VN tăng trưởng chỉ dựa trên bán tài nguyên và sức lao động (gia công sản phẩm). Nên hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cho sản phẩm rất thấp. Đó là lý do tại sao tốc độ tăng trưởng sẽ không thể tăng được nữa khi mà tài nguyên cạn kiệt và các nước khác như Bangladesh giảm giá nhân công.




Điều đó cũng có nghĩa là các ngành như bất động sản, khai khoáng, gia công sẽ không đóng góp nhiều cho tăng trường kinh tế. Các ngành đóng góp nhiều tăng trưởng cao, ổn định và lâu dài vẫn là sản xuất, hậu cần, dịch vụ và nghiên cứu phát triển. Vì các ngành này tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Và làm gia tăng giá trị cho sản phẩm.

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2017

Về bài báo "Người giàu thế giới có thêm 237 tỷ USD năm 2016"


Hôm nay đọc được bài báo "Người giàu thế giới có thêm 237 tỷ USD năm 2016" thì thấy cũng bình thường. Kinh tế và chính trị trên toàn cầu trong năm 2016 có thể thay đổi khôn lường nhưng có một thứ vẫn không thay đổi. Đó là giá trị cuộc sống thì không thay đổi. Hạnh phúc, bình yên, hài hòa, sức khỏe. Những giá trị này sẽ không bao giờ thay đổi dù cho kinh tế hay chính trị thay đổi bể dâu.

Đó là lý do tại sao những người giàu nhất thế giới vẫn giàu có thêm.

"Trong một năm có nhiều biến động lớn cả về kinh tế và chính trị trên toàn cầu, tài sản của những người giàu nhất hành tinh vẫn tăng lên."


Nguồn nhipcaudautu.vn

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2016

Tản mạn về kinh tế

Nhân hôm nay đọc bài báo "Cổ phiếu hàng không cất cánh" trên NCDT. Mình chợt nhớ là cũng đã từng dự đoán rằng giá trị cổ phiếu của các ngành này tại Việt Nam sẽ tăng trong vòng 10 năm tới. Đó là cổ phiếu của các ngành: vận tải, nước sạch, hậu cần, năng lượng sạch (gióthái dương).

TPP là cơ hội để VN tự cải thiện và thay đổi nền kinh tế phát triển đi nên từ nền kinh tế vẫn nặng về gia công -  nhân công rẻ thành nền kinh tế làm chủ công nghệ và sáng tạo. Tuy nhiên, nếu TPP không thành công thì cũng nên tìm cơ hội khác cho mình vì sự phát triển của chính mình.


Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

Apple: lợi nhuận hay công ăn việc làm

Nhân đọc bài báo trên báo Tuổi trẻ Ông Trump đề nghị Apple đưa sản xuất iPhone về Mỹ thì có đôi dòng tản mạn như sau.

Mục tiêu của tổng thống Trump là tạo thêm được công ăn việc làm tại Mỹ và mục tiêu của Apple là lợi nhuận. Một sản phẩm muốn cạnh tranh được trên thị trường thì cần nhiều yếu tố. Trong đó có hai yếu tố quan trọng là giá thành sản phẩm bán ra và chất lượng sản phẩm. Sản phẩm của Apple nổi tiếng vì chất lượng tốt và giá bán thì đắt đỏ.

Nếu iPhone được lắp ráp tại Mỹ thì chắc chắn giá thành sẽ tăng lên rất cao. Vì giá nhân công tại Mỹ cao hơn giá nhân công tại Trung Quốc. Và chuỗi cung ứng tại Mỹ sẽ không đầy đủ dẫn đến chi phí vận chuyển linh kiện về Mỹ tăng lên. Mặt khác công nhân tại Trung Quốc được cho là lành nghề.

Vậy Apple có hy sinh lợi nhuận để tạo thêm công ăn việc làm tại Mỹ hay không? là câu hỏi mà thời gian sẽ trả lời. Và tại sao Apple cần hy sinh lợi nhuận của mình để tạo thêm công ăn việc làm tại Mỹ?


Thứ Hai, 26 tháng 9, 2016

Tại sao Việt Nam không nên làm thép!

Đọc bài báo này thì chúng ta sẽ biết được tại sao Việt Nam sản xuất thép không phải là lợi thế cũng như không có lãi tại thời điểm này về mặt kinh tế. Liên hệ với dự án thép Cà Ná tại Ninh Thuận thì về môi trường thì đã có bài học nhãn tiền về lựa chọn môi trường hay chọn thép.

Có lẽ chúng ta nên xem xét lại chiến lược phát triển kinh tế là nên đầu tư cho sáng tạo cũng như tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa về xuất khẩu. Nên đầu tư vào điện gió, phát triển các ngành dịch vụ du lịch.

Sau đây là trích nguyên văn bài báo.

Việt Nam không nên làm thép!



Dù bị áp thuế tự vệ, giá thép nhập khẩu từ Trung Quốc vẫn thấp hơn thép Việt Nam khoảng 10%.

Kể từ sau khi tin tức về dự án thép Cà Ná có quy mô 10,6 tỉ USD được truyền đi, những tranh cãi về chuyện Việt Nam nên hay không nên làm thép đã nổ ra. Phía ủng hộ có lý do để bỏ phiếu thuận. Đại diện Bộ Công Thương nhận định, Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng 17 triệu tấn thép vào năm 2020 và đến năm 2025, con số này có thể lên tới 22-25 triệu tấn. Đây là lý do để Bộ Công Thương bỏ phiếu cho dự án thép Cà Ná.
Một số chuyên gia tán thành sự ra đời của những dự án thép “khủng” còn vì ngành thép cần được cơ cấu lại. Trong bài viết của mình, chuyên gia kinh tế Phan Minh Ngọc cho rằng, phần lớn nhà máy ở Việt Nam có quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ (công suất dưới 500.000 tấn). Sự ra đời của những dự án thép quy mô lớn hứa hẹn làm gia tăng vị thế của ngành, tăng áp lực cạnh tranh, buộc các nhà máy và dự án thép kém hiệu quả phải rút lui.
Liệu những lý do này đủ để thuyết phục các dự án thép “khủng” là cần thiết cho Việt Nam?
Nỗi ám ảnh từ thép Trung Quốc
Phải thừa nhận một nghịch lý rằng Việt Nam thiếu nhưng lại thừa thép. Trong những phân khúc Việt Nam đang sản xuất như thép xây dựng, thép ống, thép cuộn cán nguội và tôn mạ, hầu hết đều có công suất gấp đôi mức tiêu thụ. Sắp tới, khi nhiều dự án mới như Khu Liên hợp Gang Thép Formosa Hà Tĩnh (Đài Loan), Thép Nghi Sơn cùng đi vào hoạt động, sản lượng thép đến năm 2030 có thể đạt tới 50 triệu tấn mỗi năm, gấp 3-4 lần hiện tại. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ dự đoán chưa tới 40 triệu tấn/năm.
Thừa thép nhưng Việt Nam vẫn đang bỏ ra hàng tỉ USD mỗi năm để nhập khẩu thép. Đó là vì nhiều loại thép như thép hợp kim, thép cuộn cán nóng, thép tấm lá, thép không gỉ, thép chế tạo... Việt Nam chưa đủ khả năng sản xuất hoặc chưa đủ năng lực đáp ứng. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), năm 2015, Việt Nam đã nhập gần 1,8 triệu tấn phôi thép, nhập hơn 1,6 triệu tấn thép cuộn, dây thép và 1,43 triệu tấn tôn mạ. Tất cả đều tăng mạnh so với cùng kỳ.
Đây là sự bất hợp lý trong cơ cấu sản phẩm, đồng thời cũng phản ánh năng lực cạnh tranh yếu kém của ngành thép Việt Nam. Thực tế, dù bị áp thuế tự vệ, giá thép nhập khẩu từ Trung Quốc hiện vẫn thấp hơn thép Việt Nam khoảng 10%. Vì thế, các công ty thương mại tích cực nhập khẩu thép Trung Quốc về bán. Trong 8 tháng đầu năm nay, lượng thép Trung Quốc nhập vào Việt Nam đã gần bằng 80% lượng thép tiêu thụ trên thị trường và chiếm xấp xỉ 60% về sản lượng lẫn giá trị thép nhập khẩu của Việt Nam.
Thép Trung Quốc sẽ còn tiếp tục gây khó khăn cho thép Việt Nam do quốc gia này đang thừa cung và có thể sẽ thực hiện chiến dịch phá giá, đẩy mạnh bán thép ra nước ngoài. Trung bình mỗi năm Trung Quốc xuất ra thị trường thế giới 15% tổng sản lượng sắt thép. Nếu tình hình tiêu thụ ở Trung Quốc không cải thiện, nước này có thể dư thừa tới 300 triệu tấn thép mỗi năm, theo dự báo của Hiệp hội Sắt Thép Trung Quốc.
Viet Nam khong nen lam thep!

Cả thế giới đều lo sợ và tìm cách ngăn chặn thép Trung Quốc. Mỹ đã áp dụng mức thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp lên tới 266% đối với một số sản phẩm thép Trung Quốc nhập khẩu. Úc cũng quyết định áp thuế chống bán phá giá 53% lên thép Trung Quốc từ tháng 4 năm nay bất chấp Trung Quốc đe dọa cắt giảm nhập khẩu quặng sắt từ Úc. Riêng châu Âu, một mặt vận động các tập đoàn thép lớn sáp nhập với nhau và đổi mới công nghệ để làm ra những loại thép cao cấp mà Trung Quốc không sản xuất được, mặt khác đàm phán với Trung Quốc lập ra một cơ quan hỗn hợp để theo dõi số liệu thương mại song phương về thép và giám sát việc Trung Quốc thực hiện các biện pháp cắt giảm sản lượng thép.
Việt Nam cũng đã thiết lập hàng rào thuế quan tự vệ đối với thép nhập khẩu và chính thức áp dụng biện pháp này từ tháng 8.2016. Tuy nhiên, mức thuế 23,3% mà Việt Nam áp cho phôi thép và 15,4% dành cho thép dài sẽ chỉ kéo đến tháng 3.2020, với thuế suất giảm dần qua các năm. Nhiều khả năng các biện pháp tự vệ từ Việt Nam sẽ không làm chậm lại bước tiến của thép Trung Quốc.
Trung Quốc có sức mạnh của một cường quốc về sản xuất thép. Theo Hiệp hội Thép Thế giới, hằng năm, Trung Quốc sản xuất hơn 800 triệu tấn thép. Tuy năm 2015, nước này đã giảm đôi chút về sản lượng nhưng vẫn gấp 5 lần sản lượng của châu Âu, hơn 7 lần Nhật và chiếm hơn một nửa tổng sản lượng thép toàn thế giới. Với quy mô này, cộng thêm những ưu đãi mà Trung Quốc dành cho ngành thép, như ưu đãi về giá điện, nước, nới lỏng các quy định về môi trường và các doanh nghiệp thép Trung Quốc cũng đã triển khai những ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất thép nên thép Trung Quốc không chỉ vượt trội về nguồn cung hàng hóa mà còn hấp dẫn về giá cả. Với những lợi thế này, gần như không quốc gia nào thắng nổi Trung Quốc trong cuộc cạnh tranh về giá thép.
Bất lợi đủ đường
Ngành thép Việt Nam còn phải cạnh tranh với các đối thủ đến từ nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Một khi nhà máy thép của Formosa đi vào vận hành, với công suất 7,5 triệu tấn/năm giai đoạn 1 và tăng lên khoảng 22,5 triệu tấn/năm khi nhà máy hoàn thiện, Formosa có khả năng sẽ thao túng cả thị trường. Bởi ngay doanh nghiệp thép lớn nhất hiện nay của Việt Nam là Hòa Phát cũng chỉ mới đạt công suất 2 triệu tấn/năm.
Ngành thép cũng chịu ảnh hưởng bởi cung cầu thị trường, giá cả... trên thế giới, vốn thường xuyên biến động. Chính vì thế, ngành thép chỉ mới sáng sủa trở lại trong năm nay, sau khi giá thép thế giới hồi phục, nhu cầu thép trong nước tăng theo, thị trường bất động sản ấm lại và Việt Nam đã tiến hành các biện pháp thuế quan tự vệ. Còn trước đó, ngành thép Việt Nam hứng chịu nhiều lao đao. Trong 5 năm (2011-2015), nhiều doanh nghiệp trong ngành này như Thép Việt Ý, Hữu Liên Á Châu, Thép Tiến Lên, Pomina, Thép Nam Kim, Đại Thiên Lộc, Thép Thái Nguyên (TISCO)... đều từng nếm trải mùi thua lỗ.
Viet Nam khong nen lam thep!
Hơn 2/3 nhà máy thép trong nước sử dụng thiết bị sản xuất có công nghệ lạc hậu, tiêu hao năng lượng và gây ô nhiễm môi trường. Ảnh: baomoi.com
Nhìn sâu thêm vào ngành thép mới thấy Việt Nam khó mong đạt tới một nền công nghiệp thép có khả năng trụ vững trước sức tấn công của thép Trung Quốc. Theo báo cáo của nhóm chuyên gia thuộc Fulbright, sau hơn 2 thập niên tìm cách đổi mới ngành thép, dồn lực đầu tư cho nhóm doanh nghiệp nhà nước mà cụ thể là Tổng Công ty Thép Việt Nam (VNSteel), VNSteel vẫn không tỏa sáng. Trong khi đó, các doanh nghiệp tư nhân - nhóm không được ưu tiên - lại cho thấy sức bật. Hiện tại, Pomina là doanh nghiệp đầu tư bài bản nhất, còn Hòa Phát có lẽ là doanh nghiệp đạt lợi thế cạnh tranh lớn nhất.
Nhưng sự vươn lên của một số doanh nghiệp thép không xóa đi được thực trạng ngành thép Việt Nam. Số liệu từ VSA cho thấy, hơn 2/3 nhà máy sản xuất thép trong nước hiện sử dụng các thiết bị sản xuất có trình độ công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng và gây ô nhiễm môi trường. Trong luyện phôi, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu dùng công nghệ lò điện, vốn là công nghệ lạc hậu so với lò cao. Trong sản xuất thép, nhiều công ty sử dụng lò dung tích nhỏ (chưa tới 100 m3), thấp hơn nhiều so với  dung tích bình quân hàng ngàn mét khối của Nhật, Trung Quốc. Bởi thế, các doanh nghiệp thép của Việt Nam thường mất thời gian gấp đôi và tiêu hao điện cao hơn 60-70% so với thế giới để sản xuất 1 mẻ thép, theo báo cáo từ VNSteel. Và giá thành làm thép của Việt Nam cũng cao hơn 10-15% thế giới.
Tương lai ngành thép Việt Nam đang trông nhờ vào các doanh nghiệp tư nhân như Hòa Phát, Hoa Sen, Pomina. Đây là các doanh nghiệp đã lớn mạnh về quy mô, đầu tư nghiêm túc nên được kỳ vọng sẽ tạo được sức cạnh tranh. Nhưng đây cũng là nhóm cần sự hỗ trợ từ chính sách. Chẳng hạn, chính sách cấm xuất khẩu quặng sắt có lợi cho Hòa Phát và TISCO. Hòa Phát, chẳng hạn, đã nắm quyền quyết định trong đàm phán mua quặng sắt khi các cửa ra cho quặng sắt bị đóng lại.
Ngay việc áp thuế tự vệ cũng chỉ có lợi cho một số doanh nghiệp vừa luyện phôi vừa sản xuất thép như Hòa Phát, Việt Ý, Pomina, nhóm doanh nghiệp VNSteel, theo đánh giá của Công ty Chứng khoán Bảo Việt. Còn phần đông những doanh nghiệp chỉ sản xuất hoặc làm thương mại thép lại không hưởng lợi hoặc hưởng lợi rất ít. Rõ ràng, các chính sách về thép chỉ hỗ trợ một nhóm doanh nghiệp và đã gây ra những tranh cãi nhất định.
Đáng nói là dù được tạo điều kiện, sản phẩm thép Việt Nam vẫn khó lật ngược thế cờ trước thép ngoại. Lượng thép nhập khẩu vào Việt Nam vẫn trên đà tăng và tăng cao hơn sản lượng thép sản xuất trong nước. Trong khi đó, sản xuất thép đưa đất nước đối mặt với rủi ro môi trường. Theo Hội Khoa học Kỹ thuật Đúc - Luyện kim Việt  Nam (VFMSTA), để sản xuất được một tấn thép thô bằng công nghệ lò cao, các doanh nghiệp sẽ thải ra hơn 585 kg chất thải rắn, 3 m3 nước thải độc hại, 2,3 tấn khí CO2, cùng các loại khí CO, SO2, bụi và bụi kim loại... Vì vậy, trong các vùng luyện kim, thường 60% khí quyển bị nhiễm bẩn. Nếu các loại khí thải này không được xử lý tốt, các hóa chất sẽ gây ra những hiện tượng như mưa a-xít, cùng với bụi kim loại, làm nguy hại cho sức khỏe con người, cây trồng vật nuôi trong khu vực.
Trả lời báo chí, ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch VFMSTA, cho biết: “Sản xuất thép là ngành không thân thiện với môi trường. Không có nhà máy thép nào là sạch. Nơi nào có nhà máy thép nơi đó có ô nhiễm”. Để làm sạch môi trường, năm 2014, các doanh nghiệp Mỹ đã chi 17 USD cho mỗi tấn thép, theo Cục Điều tra Thống kê Mỹ. Nếu Formosa cũng làm theo cách của doanh nghiệp Mỹ, ước tính chi phí khử ô nhiễm khi sản xuất 7,5 triệu tấn thép sẽ là 127 triệu USD.
Việt Nam đi sau, lại không có lợi thế về quy mô, công nghệ, vốn… để đưa ngành thép đạt tới tầm vóc đủ sức cạnh tranh về giá và chất lượng với các nước. Trong khi đó, thép Trung Quốc, thép Hàn, Nhật... dư thừa nguồn cung, không ngừng đe dọa thép Việt Nam. Và cùng với hiểm họa môi trường, một số ý kiến cho rằng, Việt Nam nên đi con đường nhập thép sẽ lợi ích hơn là đẩy mạnh sản xuất thép.
Ngọc Thủy


Thứ Tư, 21 tháng 9, 2016

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2016

Làm sao tránh bẫy "công xưởng thế giới"?

Làm sao để Việt Nam tích lũy hơn nữa về công nghệ, kỹ thuật, giáo dục - hay nói cách khác là làm chủ công nghệ (mà TQ hiện đã làm được - thể hiện qua việc thâu tóm các công ty công nghệ lớn trên thế giới) hơn là những chỉ số đơn thuần về kiều hối, ngoại hối và kim ngạch xuất khẩu để tránh được bẫy "công xưởng thế giới" là câu hỏi sau khi đọc bài báo Làm sao tránh bẫy "công xưởng thế giới"?

"Những vấn đề của Trung Quốc trong việc chuyển đổi từ mô hình gia công sang mô hình tăng trưởng dựa trên tiêu dùng cũng là một bài học quý giá cho Việt Nam. Để “uốn” nền kinh tế theo mô hình nền kinh tế tri thức (trong dài hạn) hay hướng đến nền kinh tế tiêu dùng (trong trung hạn), Việt Nam vẫn cần tích lũy hơn nữa về công nghệ, kỹ thuật, giáo dục, hơn là những chỉ số đơn thuần về ngoại hối, kiều hối và kim ngạch xuất khẩu. Có như vậy, mới có thể tránh khỏi bẫy “công xưởng thế giới” mà Trung Quốc đang muốn thoát ra."

Nguồn: http://nhipcaudautu.vn/kinh-te/lam-sao-tranh-bay-cong-xuong-the-gioi-3316047/ 

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2016

Abenomic

Vấn đề suy thoái kinh tế của Nhật Bản cũng khác giống với vấn đề mà Châu Âu đang phải đối mặt về phát triển kinh tế. Và Châu Âu đang chờ xem Nhật Bản sẽ xoay xở ra sao.


Abenomic 1.0

Nhìn vào phiên bản này thì thấy rằng ông Abe khá là ôm đồm. Trong phiên bản 2.0 thì thấy rõ là các mục tiêu cụ thể hơn.

Mũi tên thứ nhất là “ngân sách”. Ông Abe, chủ trương nhà nước sẽ chi ra hàng trăm tỷ yen và còn có thể nhiều hơn nữa, nhằm khuyến khích các hoạt động bằng các kế hoạch quy mô hỗ trợ nền kinh tế, khác hẳn với chính sách “thắt lưng buộc bụng” của EU.

Mũi tên thứ hai là “tiền tệ”. Theo đó, BOJ tiến hành cải tổ chính sách tiền tệ để đạt mục tiêu lạm phát ở mức 2% trong vòng hai năm, thông qua kỹ thuật được gọi là “giảm nhẹ chất lượng và số lượng”. Bơm tiền mặt vào thị trường nhằm bôi trơn tín dụng, giảm chi phí cho vay kích thích đầu tư của doanh nghiệp và tiêu dùng của người dân.

Mũi tên thứ ba là “cải cách”. Việc cải tổ cơ cấu được tiến hành nhằm chuyển đổi sâu sắc hệ thống kinh tế và khơi dậy “tiềm năng tăng trưởng” của Nhật Bản. Hướng tới việc giảm thuế cho doanh nghiệp, tự do hóa thị trường điện, hiện đại hóa nông nghiệp, gia tăng việc làm, nhất là lao động nữ.

Abenomic 2.0

Xem trong phiên bản Abenomic 2.0 thì chủ yếu tập trung vào tăng dân số và anh sinh xã hội. Vấn đề lớn mà Nhật đang phải đối mặt đúng như là Lý Quang Diệu đã nói là vấn đề tỷ lệ sinh của Nhật thấp như trong bài trước.

Một là, mục tiêu tăng trưởng GDP 600 nghìn tỷ yen (5.000 tỷ USD) so với con số GDP 490.000 tỷ yen của Nhật Bản trong năm tài khóa 2014 là một mục tiêu đầy tham vọng.

Hai là, tăng cường các biện pháp hỗ trợ nuôi và sinh con. Mục tiêu này được giải thích là do tình trạng lão hoá và dân số giảm, ông Abe cam kết hỗ trợ tài chính cho các gia đình và đề ra mục tiêu tăng tỷ lệ sinh lên mức bình quân từ 1,4 lến 1,8 trẻ/bà mẹ. Đồng thời cam kết duy trì dân số luôn ở mức 100 triệu dân từ nay đến năm 2065.

Ba là, cải thiện an sinh xã hội. Trong 5 năm tới, Nhật Bản sẽ xây dựng thêm nhiều nhà dưỡng lão để giảm bớt gánh nặng cho lao động trẻ, giúp họ yên tâm làm việc, giảm được hàng chục ngàn lao động của con cái phải ở nhà chăm sóc cho cha mẹ già.

Tham khảo:
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/quoc-te/hanh-trinh-suy-thoai-kinh-te-nhat-ban-3125797.html
http://plth.vn/9404/print-article.html
http://macromarketmusings.blogspot.in/2015/12/upgrading-to-abenomics-20.html

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2016

Kinh tế Nhật bản và chuyện sinh con


Nhân đọc được bài Tại sao người Nhật ngày càng ít sinh con trên Nghiên cứu quốc tế. Tôi thử tìm sự liên quan giữa tỷ lệ sinh và GDP giữa Nhật Bản và Việt Nam thì được con số như sau. Kinh tế Nhật Bản tăng trưởng âm trong năm 2015 trong khi GDP Việt Nam vẫn tăng trên 5. Tương ứng tỷ lệ sinh của Nhật Bản năm 2012 là 1.41 trong khi của Việt Nam là 1.77.

Tỷ lệ sinh quá thấp là một trong các nguyên nhân chính dẫn đến việc suy thoái kinh tế Nhật hiện nay. Và giải pháp cho tình thế cấp bách của người Nhật Bản bây giờ là cho phép nhập cư hàng loạt. Trong khi các giải pháp tăng tỷ lệ sinh hẩu như không có kết quả hoặc mà có thì chắc phải hàng chục năm nữa mới thấy kết quả.

Các nguyên nhân làm giảm tỷ lệ sinh đồng nghĩa với già hóa dân số theo BBC gồm các lý do

  • Chí phí sinh và nuôi dạy trẻ tăng.
  • Ngày càng nhiều nữ tham gia vào lực lượng lao động chính.
  • Độ tuổi trung bình hôn nhân ngày càng cao.
  • Sự gia tăng  người độc thân.
  • Những thay đổi trong môi trường nhà ở và tập quán xã hội





Thuvienxuan 26-July-2016