Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2016

Điện

Hôm qua ngồi trên ô tô, mấy anh em tranh luận về việc sự nguy hiểm khi bị máy hàn giật điện và bộ đề khởi động ô tô. Đây là kiến thức của phổ thông mà mình không nhớ rõ lắm. Chỉ nhớ rằng cường độ tăng thì điện thế giảm và ngược lại.

Công suất điện xoay chiều


        Trong biểu đồ, P là công suất thực, Q là công suất phản kháng, độ dài của S là công suất biểu        kiến.

        Nhận thức được quan hệ giữa ba thành phần này là vấn đề cốt lõi của nhận thức chung về công    nghệ điện xoay chiều. Quan hệ toán học giữa các thành phần này là một tổng vectơ và thông thường được biểu diễn dưới dạng số phức

      S = P + iQ

Ở đây i là đơn vị số ảo, căn bậc hai của -1.

Công suất điện một chiều

Công suất được định nghĩa như là phần năng lượng được chuyển qua một bề mặt trong một đơn vị thời gian. Đối với mạch điện một chiều, công suất, năng lượng mà mạch điện thực hiện chuyển đổi qua đường dây điện trong một đơn vị thời gian, được tính bằng công thức:

Công thức tính công suất của dòng điện:

Với:

P là công suất
U là điện áp
I là độ lớn dòng điện đi qua ( cường độ dòng điện).
R là điện trở

Tự nhiên nhớ lại kỹ năng phòng vệ khi bị sét đánh. Tư thế ngồi thấp nhất có thể, chụm hai gót chân, kiễng chân nhiều nhất có thể và bịt tai.  Khép sát hai gót chân với nhau giúp dòng diện đi qua hai bàn chân mà không đi qua cơ thể.

Tư thế ngồi chống sét đánh


Kiến thức về máy hàn và bộ đề liên quan đến máy biến áp. Nguyên lý là biến điện (xoay chiều) thành từ và từ thành điện. Dòng điện và điện thế thay đổi tùy vào số vòng dây. Công thức liên quan giữa điện thế, số vòng dây và dòng điện như sau.

(máy biến thế lí tưởng).
Ví dụ, 1 máy biến thế có công suất 400 W, tỉ lệ biến thế 80:5

Phía sơ cấp 80V, 5A, 160 vòng
Phía thứ cấp 5V, 80A, 10 vòng

Về bộ đề của động cơ ô tô thì được chạy bằng nguồn điện một chiều. Cách lý giải như sau:

Vì động cơ điện một chiều kiểu nối tiếp có thể đạt tới mô men quay cực đại từ khi vận tốc còn nhỏ, nó thường được sử dụng để kéo, chẳng hạn đầu máy xe lửa hay tàu điện. Một ứng dụng khác nữa là để khởi động các loại động cơ xăng hay động cơ điezen loại nhỏ. Tuy nhiên nó không bao giờ dùng trong các ứng dụng mà hệ thống truyền động có thể dừng (hay hỏng), như băng truyền.






Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016

[Truyện ngắn của Phan Việt] Chúa ở đâu?


May đi từ bảy ngày trước. Lần này, May không hề khóc. Mặt nàng bình thản.

- Em không thể sống thế này được. Em phải đi.

Tôi để cho nàng đi. Tôi biết May sẽ quay lại trong vòng một hai ngày, hoặc một tuần. Lâu nhất là một tuần. May là người Mỹ và coi mình là một người Cơ đốc ngoan đạo. Một tuần là khoảng thời gian lâu nhất nàng có thể đi. Nàng đã từng làm thế một lần - gần Giáng Sinh năm ngoái. Lần ấy, chúng tôi cãi nhau to vì tôi đã không “friendly” với những người ở nhà thờ của nàng. Chúng tôi đã đi picnic ở một công viên. Mọi người chuẩn bị đồ ăn, còn tôi ngồi trên ghế xem lũ trẻ chơi bóng. Khi đồ ăn chuẩn bị xong, họ cầu nguyện và chúng tôi ăn. Ăn xong, họ bắt đầu nói chuyện. Một người phụ nữ đứng tuổi kể chuyện Chúa đang giúp chồng bà ta bình phục sau một ca phẫu thuật cắt trĩ. Một người khác tạ ơn Chúa đã hàn gắn quan hệ giữa chị ta với người bố đã bỏ chị ta từ lúc năm tuổi. Một người nói về chuyện nghiện rượu. Đến lượt May, nàng nói rằng nàng tạ ơn Chúa vì đã mang tôi đến. May nói tôi luôn có những câu trả lời rõ ràng về cuộc sống trong khi nàng hay lo lắng viển vông. Nàng nói tôi là cái mỏ neo, là mọi thứ trong cuộc đời nàng; nàng chỉ còn ước một điều là tôi cũng tin Chúa như nàng, để chúng tôi có thể bên nhau cả trên trần thế lẫn khi đã về với nước Chúa.

May nói xong, mọi người đều mỉm cười nhìn tôi. Tôi mỉm cười lại với họ. Tôi không có gì để nói về Chúa, thực sự không có gì để nói. Thế nên tôi cười rồi chờ. Tôi chờ một giây… rồi một giây nữa… Khi những người xung quanh nhận ra tôi không định nói gì, họ liếc nhìn nhau rồi liếc nhìn May; rồi một người quay sang một người phụ nữ trẻ và hỏi cô ta về người chồng đang làm nghĩa vụ ở Iraq.

Khi chúng tôi trở về nhà hôm đó, May nói rằng tôi đã coi thường “my people(1)”.

- Anh bôi gio trát trấu vào mặt tôi – May nói – Anh đúng là loại châu Á vô thần máu lạnh. Anh thử nghĩ xem, chúng tôi đã đối xử với anh thế nào mà anh coi thường chúng tôi như thế?

May đã nói “chúng tôi”. Chúng tôi nào? Nàng không có lý do và cũng không có quyền nổi cáu với tôi về chuyện này. May biết rõ tôi không tin Chúa khi chúng tôi lấy nhau.

May còn gọi tôi bằng nhiều tên khác nữa ngoài “đồ vô thần máu lạnh”. Tôi chưa bao giờ thấy nàng giận dữ như thế. Tôi chẳng gọi nàng bằng tên gì cả. Tôi biết May. Tôi biết tất cả bọn họ. Chẳng cần phải gọi tên nào khác.

Hình như việc tôi không nói gì làm May càng tức giận. Nàng gào lên bằng thứ tiếng Mỹ rất hợp với các cuộc xô xát:

- Do you want me to die? Should I die to make you happy, you son of a bitch(2)?

May nói xong thì lao đến gần cửa sổ như thể nàng sẽ nhảy qua cửa sổ ra ngoài. Dĩ nhiên, May biết và tôi biết, nàng sẽ không nhảy.

Lúc ấy, tôi ngồi trên chiếc ghế dài tôi thường ngồi xem truyền hình. Tôi biết tôi nên chạy đến ngăn nàng nhưng tôi quá mệt. Tôi chờ một giây trôi qua. Rồi một giây nữa. May nhìn tôi. Nàng không còn khóc. Mắt nàng đỏ nhưng ráo hoảnh. Bất thần, nàng đổ người xuống sàn nhà và cuộn mình lại như một con sâu. Sau đó, nàng bắt đầu những tiếng gào khan. Tôi nhìn May. Rồi tôi đứng lên khỏi ghế và nói:

- For God’s sake, can you cut the crap?(3)

Nhưng May không còn nghe tôi nói nữa.

Tôi mở cửa thò đầu ra ngoài để hứng gió lạnh rồi quyết định đi dạo một vòng. Tôi đã định đi bộ ra tận bờ hồ Michigan; nhưng chỉ đến cuối phố 57, tôi ghé vào quán cà phê Istria và ngồi đó cho đến lúc bắt đầu lên đèn mới về nhà. Khi tôi bước vào nhà, tôi biết May đã đi. Nàng cầm theo túi xách, đồ trang điểm trên bàn phấn trong phòng ngủ và điện thoại di động. Nhưng nàng không trả lời điện thoại khi tôi gọi.

Bảy ngày trôi qua, rồi May gửi email cho tôi. Nàng nói: “Em sẽ về nhà. Chúng ta cần nói chuyện”. Tôi trả lời nàng ngay lập tức. Tôi nói “Em về đi. Chúng ta sẽ nói chuyện”.

Nhưng chúng tôi không hề nói chuyện lần đó. Khi tôi nhìn thấy May bước qua cửa, tôi bước tới ôm lấy nàng. Chúng tôi không bao giờ nhắc lại chuyện đã xảy ra.

Nhưng lần này, May không hề khóc. Tôi thậm chí cũng không chắc vì sao chúng tôi cãi nhau. Lúc đó, chúng tôi đang ngồi trong phòng khách xem một bộ phim có Bruce Willis giải cứu một bộ tộc châu Phi nào đó khỏi chế độ độc tài. Tôi nói “Gớm, Hollywood, phim nào cũng như phim nào; lần nào cũng thấy người Mỹ giải cứu thế giới, lần nào cũng thấy nước Mỹ là anh hùng cứu độ chúng sinh, các rambo Mỹ chân tay lực lưỡng diệt ác trừ gian để cứu những dân tộc nhược tiểu. Vì Chúa! Nước Mỹ cứ dẹp sang một bên, đừng xía vào chuyện thiên hạ thì thế giới có lẽ đã hòa bình hơn. Ai cho người Mỹ cái quyền tự phong mình là đấng cứu thế của thế giới. Thật là lố bịch.”

Thế rồi, trước khi tôi nhận ra, May và tôi đã đang tranh luận về cuộc chiến Việt Nam. Tôi nói, nước Mỹ đã sai khi mang quân tới Việt Nam. Nước Mỹ đã sai khi thả tới tám triệu tấn bom xuống Việt Nam, và May nên biết số bom này bằng bốn lần tổng số bom người ta dùng trong Thế Chiến thứ hai trong khi diện tích của Việt Nam chỉ lớn bằng bang New Mexico của Mỹ. Người Mỹ cũng đã sai khi rải 10 triệu tấn hóa chất, gồm cả chất độc màu da cam, xuống nhiều vùng ở Việt Nam, đến nỗi bây giờ ở nhiều nơi, cây cối vẫn chưa mọc lại bình thường và người ta vẫn không thể sinh sống vì sợ hóa chất, bom mìn. Đấy là còn chưa kể ít nhất hai triệu người Việt Nam đã chết trong cuộc chiến này và còn rất nhiều di chứng chiến tranh cho tới vài thập kỷ sau, và đấy là còn chưa kể... May nói, nhưng nước Mỹ phải đưa quân vào Việt Nam để người Việt Nam có quyền lựa chọn chế độ dân chủ nếu họ muốn. Tôi nói, ồ không, không không, xin lỗi, đấy chỉ là luận điệu tuyên truyền của giới truyền thông và chính quyền Mỹ lúc đó. Sự thật là chính quyền Mỹ và các tập đoàn tư bản Mỹ cần cuộc chiến Việt Nam vì lý do kinh tế chứ không phải vì lý do nhân quyền, lý do nhân đạo hay những cái khái niệm đẹp đẽ mà người Mỹ được nghe. Các nhà sử học và các thống kê đã cho thấy...

Nhưng tôi còn chưa trích dẫn hết các thống kê thì May đã đứng dậy khỏi ghế. “Tại sao lúc nào anh cũng phải đúng? Tại sao lúc nào anh cũng phải thống kê, lý luận? Lúc nào anh cũng chỉ nghĩ đến cái logic kiểu của anh?” Sau đó May nói: “Em không thể sống như thế này mãi được. Em phải đi.”

- Phải đi? – Tôi nói.

- Anh chẳng tin bất cứ thứ gì trên đời, anh chẳng bao giờ tin có cái gì là tử tế, tốt đẹp. Anh không bao giờ tin em. Em không quan tâm nếu cả thế giới này không tin em. Nhưng anh là chồng em. Vì Chúa, anh là chồng em!

***

Tuyết rơi từ sáng. Tôi ngồi trong phòng khách đọc sách và xem truyền hình. Sáng thứ Bảy, tivi chỉ toàn quảng cáo và hoạt hình. Ngày hôm nay là ngày thứ tám. May vẫn chưa về.

Tôi hút bụi khắp nhà. Tôi giặt quần áo bẩn. Tôi tưới tất cả những cây cảnh chúng tôi trồng bên trong và bên ngoài nhà. Rồi tôi gọi Domino mang đến một cái pizza lớn với bốn lon Coca Cola - cho bữa trưa và tối. Rồi tôi ngủ.

Khi tôi tỉnh dậy đã là ba giờ chiều. Trong nhà im ắng đến nỗi tôi nghe rõ tiếng rì rì của cái tủ lạnh trong bếp. Trên truyền hình vẫn toàn quảng cáo và thể thao; điện thoại không tin nhắn cũng không có cuộc gọi nhỡ, hộp email không thư mới. Tôi tắt tivi, mặc áo khoác, đi ủng rồi đóng cửa đi bộ ra ngoài đường.

Dưới không độ. Trời khô nẻ, nhiều gió. Tôi đi đến khi nóng người thì quyết định rẽ vào hiệu sách Borders ở góc đường 53 cắt với Lake Park. Tôi lấy một quyển sách du lịch châu Á khỏi giá và ngồi đọc mục nói về Việt Nam. Họ in sai nhiều tên, dấu má lộn xộn; nhưng những tấm ảnh thì đẹp. Tôi ngồi rất lâu chỉ xem những bức ảnh Việt Nam và đọc những chỉ dẫn du lịch trên đó. Họ bảo, nếu đến Hà Nội, nhất định phải đến xem múa rối nước Thăng Long vì đó là kỳ quan độc nhất vô nhị trên thế giới. Lần tới về Hà Nội, tôi sẽ thử.

Thế rồi, tôi không thể nào đọc được nữa vì một nhóm người ở trong khu uống cà phê của hiệu sách bắt đầu nói rất to. Họ đã nói chuyện từ lúc nãy nhưng bây giờ, cuộc nói chuyện đã leo thang thành một cuộc tranh luận gay gắt. Có bốn người tham gia cuộc tranh luận trong khi những người còn lại ngồi nghe. Tất cả họ đều là người da đen. Một trong số họ chắc là sinh viên cao học kinh tế của Đại học Chicago vì anh ta mặc một chiếc áo có chữ Uchicago/GSB ở trước ngực. Một người khác bán đĩa nhạc rong trên tàu điện ngầm – anh ta ôm khư khư một hộp đĩa CD trong lòng, anh ta vòng cả hai tay để giữ chúng. Người thứ ba ngồi cạnh một chồng sách cao, toàn sách luyện thi môi giới nhà đất. Và người thứ tư là một thằng bé.

Thằng bé khoảng mười hai tuổi nhưng to lớn như một đô vật Sumo. Tuy thế, khuôn mặt nó vẫn là mặt của một đứa trẻ. Nó không có cổ mà có một cái cằm ba ngấn xệ xuống thành cổ. Cả thân người đồ sộ của nó lút trong chiếc ghế bành màu đen rồi tràn ra ngoài thành ghế. Thằng bé mặc một cái áo len đen ở bên trong; bên ngoài là áo thể thao ngắn tay màu đỏ, rộng thùng thình, có in hàng chữ “Chicago White Sox” trước ngực. Khuôn mặt thằng bé đang đỏ lên vì tức giận. Rõ ràng nó đã rơi vào bẫy của ba người lớn kia mà không biết. Ba người lớn và những người ngồi xem xung quanh quan sát cuộc tranh luận một cách thích thú.

- Được rồi, thế tức là cháu biết là có Chúa? - người sinh viên hỏi.

- Phải, cháu biết là có Chúa - thằng bé nói, giọng khản đặc.

- Làm sao cháu biết chắc? Cháu nhìn thấy Chúa chưa? Cháu đã gặp Chúa chưa?

- Chưa.

- Thế thì làm sao cháu biết là Chúa tồn tại?

- Thằng bé rõ ràng thất vọng và bực mình. Nhưng nó cố gắng kiên nhẫn.

- Thế này nhé… chú đã bao giờ nhìn thấy một triệu đô la chưa?

 - Chưa. Chú chưa bao giờ nhìn thấy một triệu đô la - người sinh viên trả lời với một nụ cười.

- Nhưng chú biết là một triệu đô la có tồn tại, đúng không?

- Đúng, một triệu đô la có tồn tại.

- Thì đấy, Chúa cũng thế. Chú không nhìn thấy nhưng chú biết là có tồn tại.

- Nào, nào, khoan đã – anh chàng bán đĩa CD xen vào – Tôi không nhìn thấy một triệu đô la bao giờ nhưng những người khác đã nhìn thấy. Tôi nhìn thấy một triệu đô trên vô tuyến. Em đã gặp ai nhìn thấy Chúa chưa? Em có nhìn thấy Chúa trên vô tuyến không?

- Không. Nhưng có người đã thấy Chúa. Như bà ngoại em. Bà ngoại em bảo bà nhìn thấy Chúa trong mơ. Năm ngoái, bà em trượt chân, Chúa còn chữa khỏi chân cho bà em.

- Đấy là bà em nói thế. Nhỡ bà em nói dối em thì sao? Mà bà em chỉ nhìn thấy Chúa trong mơ. Tôi còn mơ tôi biết bay, nhưng tôi đâu có bay được, đúng không?

- Bà em không bao giờ nói dối em! Không đời nào!

- OK, có thể bà em không nói dối. Có thể bà em nói thật. Nhưng đấy là sự thật của bà em. Giống như là anh mơ bay được ấy. Đấy là ảo giác. Em có biết từ “ảo giác” không? Em có biết nó nghĩa là gì không? “Ảo giác” là…

- Em biết thừa “ảo giác” là gì.

- Đấy, bà ngoại em cũng thế.... Có thể bà em đau chân nên bà em gặp ảo giác. Có thể não bà em lừa bà em.
Thằng bé suy nghĩ một lúc. Nó cắn môi. Rồi nó nói:

- Nhưng như thế thì các anh cũng không biết chắc là không có Chúa. Các anh cũng không thể nói chắc chắn được.

- Ừ, nhưng mà bọn anh có nói gì đâu - người sinh viên nói - Bọn anh biết hay không không quan trọng. Vấn đề là bọn anh đang hỏi là làm thế nào em biết là có Chúa.

- Em biết. Có thế thôi. Các anh chẳng hiểu được đâu.

Khuôn mặt thằng bé đã chuyển từ đỏ sang tái. Môi nó bợt đi, hai mắt tối sầm.

- Thì thế nên bọn anh đang cố hiểu - người sinh viên nói - Nghe này, bọn anh không định trêu em. Bọn anh chỉ đang cố hiểu.

- Nhưng em không cần các anh hiểu - giọng thằng bé đanh lại.

- Kìa kìa… thôi nào… nghe anh nói này…

Bọn họ tiếp tục một lúc như vậy. Tôi bắt đầu nhìn ra ngoài cửa sổ để xem xe cộ qua lại trên phố 53 và Lake Park. Ngã tư này đông người. Xe đi từng đợt như hơi thở của một người mắc bệnh hen suyễn. Có một quầy bán báo nhỏ đứng ở trên vỉa hè bên kia đường. Người chủ sạp báo ngồi phía trong, thò đầu ra ngoài qua ô cửa sổ nhỏ. Báo, tạp chí, kẹo cao su, kẹo gôm, và một triệu thứ khác bay quanh anh ta. Trời ngày càng gió và tuyết.
_____________________________

1.  “Những người của tôi”. Ở đây có hàm ý tôn giáo vì Chúa phân biệt con cái của Chúa (gọi là “my people”) và những người ngoại đạo. Những thứ chơi chữ này rất khó diễn giải sang tiếng Việt.
2.  Anh muốn tôi chết hả? Chắc là tôi chết thì anh mới sung sướng, đồ chó?
3. Vì Chúa, em thôi cái trò hề đó đi.

Trích trong tập Nước Mỹ, nước Mỹ của Phan Việt.


Sạc pin đúng cách


Bài báo này nói về việc sạc pin đúng cách cho máy tính, tablet và cell phone rất hay. Điều các chuyên gia khuyến cáo là 

(1) Không nên cắm sạc khi pin đã được sạc đầy.Việc cứ cắm dây sạc khi pin đã đầy sẽ làm giảm tuổi thọ của pin trong dài hạn.
(2) Không nên để pin bị hao quá. Có thể sạc bất cứ lúc nào khi pin đã bị hao (dưới 70%).





Thứ Tư, 10 tháng 8, 2016

Đầu tư

Vietnam Enterprise Investments Limited, VEIL  đang đầu tư vào đâu nhiều nhất
Quy cua Bill Gates “rot” them tien vao chung khoan Viet Nam

Theo nhipcaudautu

Một số thứ mọi người thường làm không đúng

Các cách làm đúng như sau.

Đồ uống đóng hộp. Cái giật lắp chính là chỗ giữ ống hút.

Cách đánh răng đúng cách

Cách ăn bánh cốc

Cách bổ dưa hấu

Cách bổ xoài

Cách rót nước và rót sữa

Image result for right way pouring water

Đóng gói quần áo. Hãy cuộn lại thay vì gấp. Bạn sẽ  để được nhiều đồ hơn.

Cho điện thoại vào một cái cốc để nghe nhạc hay hơn.

Cách cặp tóc

Cách cầm ly

Nguồn Quora và sưu tầm.



Một số cấu trúc câu tiếng Anh




1) S + V+ too + adj/adv + (for someone) + to do something(quá....để cho ai làm gì...)

* This structure is too easy for you to remember.
* He ran too fast for me to follow.

2) S + V + so + adj/ adv + that +S + V (quá... đến nỗi mà...)

* This box is so heavy that I cannot take it.
* He speaks so soft that we can’t hear anything.
3) It + V + such + (a/an) + N(s) + that + S +V(quá... đến nỗi mà...)

*1: It is such a heavy box that I cannot take it.
*2: It is such interesting books that I cannot ignore them at all.
4) S + V + adj/ adv + enough + (for someone) + to do something. (Đủ... cho ai đó làm gì...)

*1: She is old enough to get married.
*2: They are intelligent enough for me to teach them English.
5) Have/ get + something + done (VpII) (nhờ ai hoặc thuê ai làm gì...)

*1: I had my hair cut yesterday.
*2: I’d like to have my shoes repaired
6) It + be + time + S + V (-ed, cột 2) / It’s +time +for someone +to do something(đã đến lúc ai đóphải làm gì...).

*1: It is time you had a shower.
*2: It’s time for me to ask all of you for this question.
7) It + takes/took+ someone + amount of time + to do something(làm gì... mất bao nhiêu thờigian...)

*1: It takes me 5 minutes to get to school.
*2: It took him 10 minutes to do this exercise yesterday.
8) To prevent/stop + someone/something + From + V-ing(ngăn cản ai/cái gì... không làm gì..)

*1: I can’t prevent him from smoking
*2: I can’t stop her from tearing
9) S + find+ it+ adj to do something(thấy ... để làm gì...)

*1: I find it very difficult to learn about English.
*2: They found it easy to overcome that problem.
10) To prefer + Noun/ V-ing + to + N/ V-ing.(Thích cái gì/làm gì hơn cái gì/ làm gì)

*1: I prefer dog to cat.
*2: I prefer reading books to watching TV.
11) Would rather + V (infinitive) + than + V (infinitive) (thích làm gì hơn làm gì)

*1: She would rather play games than read books.
*2: I’d rather learn English than learn Biology.
12) To be/get Used to + V-ing(quen làm gì)

*I am used to eating with chopsticks.
13) Used to + V (infinitive) (Thường làm gì trong qk và bây giờ không làm nữa)

*1: I used to go fishing with my friend when I was young.
*2: She used to smoke 10 cigarettes a day.
14) to be amazed at = to be surprised at + N/V-ing( ngạc nhiên về....)
15) to be angry at + N/V-ing(tức giận về)
16) to be good at/ bad at + N/ V-ing(giỏi về.../ kém về...)
17) by chance = by accident (adv) (tình cờ)
18) to be/get tired of + N/V-ing(mệt mỏi về...)
19) can’t stand/ help/ bear/ resist + V-ing(không nhịn được làm gì...)
20) to be keen on/ to be fond of + N/V-ing(thích làm gì đó...)
21) to be interested in + N/V-ing(quan tâm đến...)
22) to waste + time/ money + V-ing(tốn tiền hoặc tg làm gì)
23) To spend + amount of time/ money + V-ing(dành bao nhiêu thời gian làm gì…) 
24) To spend + amount of time/ money + on + something(dành thời gian vào việc gì...)
*1: I spend 2 hours reading books a day.
*2: She spent all of her money on clothes.
25) to give up + V-ing/ N(từ bỏ làm gì/ cái gì...)
26) would like/ want/wish + to do something(thích làm gì...)
27) have + (something) to + Verb(có cái gì đó để làm)
28) It + be + something/ someone + that/ who(chính...mà...)
29) Had better + V(infinitive) (nên làm gì....)
30) hate/ like/ dislike/ enjoy/ avoid/ finish/ mind/ postpone/ practise/ consider/
delay/ deny/ suggest/ risk/ keep/ imagine/ fancy + V-ing,

  *I always practise speaking English everyday.
31) It’s + adj + to + V-infinitive(quá gì ..để làm gì)
32) Take place = happen = occur(xảy ra)
33) to be excited about(thích thú)
34) to be bored with/ fed up with(chán cái gì/làm gì)
35) There is + N-số ít, there are + N-số nhiều(có cái gì...)
36) feel like + V-ing(cảm thấy thích làm gì...)
37) expect someone to do something(mong đợi ai làm gì...)
38) advise someone to do something(khuyên ai làm gì...)
39) go + V-ing(chỉ các trỏ tiêu khiển..) (go camping...)
40) leave someone alone(để ai yên...)
41) By + V-ing(bằng cách làm...)
42) want/ plan/ agree/ wish/ attempt/ decide/ demand/ expect/ mean/ offer/ prepare/ happen/ hesitate/ hope/ afford/ intend/ manage/ try/ learn/ pretend/ promise/ seem/ refuse + TO + V-infinitive* I decide to study English.
43) for a long time = for years = for ages(đã nhiều năm rồi) (dùng trong thì hiện tại hoàn thành)
44) when + S + V(QkĐ) , S + was/were + V-ing.
45) When + S + V(qkd) , S + had + Pii
46) Before + S + V(qkd) , S + had + Pii
47) After + S + had +Pii, S + V(qkd)
48) to be crowded with(rất đông cài gì đó...)
49) to be full of(đầy cài gì đó...)


50) To be/ seem/ sound/ became/ feel/ appear/ look/ go/ turn/ grow + adj(đây là các động từ tri giác có nghĩa là: có vẻ như/ là/ dường như/ trở nên... sau chúng nếu có adj và adv thì chúng ta phải chọn adj)

51) except for/ apart from(ngoài, trừ...)

52) as soon as(ngay sau khi)

53) to be afraid of(sợ cái gì..)

54) could hardly(hầu như không) ( chú ý: hard khác hardly)

55) Have difficulty + V-ing(gặp khó khăn làm gì...)

56) Chú ý phân biệt 2 loại tính từ V-ed và V-ing: dùng -ed để miêu tả về người, -ing cho vật. và khi muốn nói về bản chất của cả người và vật ta dùng –ing

*1: That film is boring.
*2: He is bored.
*3: He is an interesting man.
*4: That book is an interesting one. (khi đó không nên nhầm với –ed, chẳng hạn ta nói : a loved man có nghĩa “người đàn ông được mến mộ”, tức là có nghĩa “Bị” và “Được” ở đó)

57) in which = where; on/at which = when

58) Put + up + with + V-ing(chịu đựng...)

59) Make use of + N/ V-ing(tận dụng cái gì đó...)

60) Get + adj/ Pii

61) Make progress(tiến bộ...)

62) take over + N(đảm nhiệm cái gì...)

63) Bring about(mang lại)

64) Chú ý: so + adj còn such + N

65) At the end of và In the end(cuối cái gì đó và kết cục)

66) To find out(tìm ra) ,To succeed in(thành công trong...)

67) Go for a walk(đi dạo) / go on holiday/picnic(đi nghỉ)

68) One of + so sánh hơn nhất + N(một trong những...)

69) It is the first/ second.../best + Time + thì hiện tại hoàn thành

70) Live in(sống ở) / Live at + địa chỉ cụ thể/ Live on (sống nhờ vào...)

71) To be fined for(bị phạt về)

72) from behind(từ phía sau...)

73) so that + mệnh đề(để....)

74) In case + mệnh đề(trong trường hợp...)

75) can/ could/ may might/ will/ would/ shall/ should/ must/ ought to... (modal Verbs) + V-infinitive.


Nice movies for learning English: Big Hero Six, How to Train Your Dragon, Ice Age, Iron Giant, Kung Fu Panda, Madagascar, Monster University, ParaNorman, Robots, The Nut Job, and Wreck It Ralph.

David Copperfield - Charles Dickens (tiểu thuyết)


Copperfield cover serial.jpg
David Copperfield - Charles Dickens

Câu chuyện dõi theo cuộc đời của David Copperfield từ thơ ấu cho đến lúc trưởng thành. David sinh ra tại Anh khoảng năm 1920. Cha cậu bé qua đời sáu tháng sau đó, và bảy năm sau mẹ cậu đi bước nữa với người đàn ông tên Edward Murdstone. David không có thiện cảm với người cha dượng này cũng như với người chị gái của ông là Jane khi chẳng bao lâu sau bà chuyển về ở cùng nhà. Trong một lần bị cha dượng đánh đập vì kết quả học tập sa sút, David đã cắn ông và sau đó bị gửi đến trại tế bần Salem House- dưới trướng của ông Hiệu trưởng nhẫn tâm Creakle. Ở đây Copperfield kết bạn với James Steerforth và Tommy Tradddles- những nhân vật bước vào rồi bước ra nhanh chóng nhưng sẽ tái xuất hiện ở những phần sau.

Theo wiki

Luyện nói tiếng Anh

Image result for pronounce
Một số notes cho học tiếng Anh


1. Pronunciation

Học theo Pronunciation for Success rất tốt. Làm theo video và textbook. Đây là tài liệu ở một lớp của bọn mình. Tải về ở đây

Mỗi ngôn ngử có một số âm khác và native language của mình không có. Để phát âm được cần luyện muscles. Không có mouth muscles và luyện tách từng âm ra, rất khó sửa.

2. Intonation

Cái này tập theo American Accent Training rất tốt. Đây là textbook của lớp thứ 2 mình học. Bạn có thể Google hay tả về ở đây

3. Ngoài ra có một số video trên youtube để tập theo cũng tốt

4. Recordings

Bạn nên ghi lại bào nói của mình. Làm những bài tập như đọc to một đoạn nào đó. Tập nói những câu số nhiều số ít.Tự nói lại một đoạn của cái talk nào đó như TED talk chẳng hạn. Nhờ ai tìm và sửa những âm không chuẩn cho bạn.

Theo vietphd

5 mẹo để cải thiện giọng Mỹ - Tiếng Anh thương mại Mỹ

1) Ghi lại giọng nói của bạn

Truy cập youtube và chọn một bài phát biểu hoặc đoạn phim / TV được nói bằng giọng Mỹ. Sau đó cố gắng lặp lại các câu tương tự và ghi lại giọng nói của bạn. Bạn sẽ ngạc nhiên về sự hữu ích của mẹo này.

2) Nói chậm hơn

Rất nhiều người không nói tiếng mẹ đẻ nói tiếng Anh quá nhanh - Tôi biết tôi đã từng làm như vậy. Chậm lại. So sánh tốc độ của bạn với người bản ngữ. Bạn sẽ nhận ra rằng bạn thực sự nói nhanh hơn họ.

3) Phát âm

Phát âm từ rõ ràng và to. Chúng tôi (chúng tôi không phải là người bản ngữ) vô thức hạ thấp giọng nói vì sâu thẳm chúng tôi không cảm thấy tự tin về tiếng Anh của mình. Điều này thực sự ảnh hưởng xấu đến bài phát biểu của chúng tôi. Hãy ngẩng cao đầu và phát âm :).

4) Phát âm đúng

Phát âm từ chính xác. Chúng ta (một lần nữa không phải người bản ngữ) nghĩ rằng chúng ta biết cách phát âm chính xác của tất cả các từ. Nhưng, chúng ta hiếm khi học cách nhấn mạnh các giáo trình đúng. Chúng tôi cũng không tạo ra các nguyên âm và phụ âm chính xác trong một số trường hợp.

5) Nhịp điệu Mỹ

Tiếng Anh là một ngôn ngữ nhịp điệu. Nói cách khác, nó có âm nhạc riêng của nó. Nói cách khác, một số từ / giáo trình phải được phát âm to hơn, rõ ràng và dài hơn những từ khác. Chúng tôi (một lần nữa không phải là người bản ngữ) có xu hướng loại bỏ hiệu trưởng này. Do đó, bài phát biểu của chúng tôi nghe rất đơn điệu đối với người nói tiếng Anh bản ngữ.

Kenton County Tiếng Anh dành cho người lớn là ngôn ngữ thứ hai